Mã số thuế cá nhân có phải là số CCCD không?
Đầu tiên, tại khoản 1 Điều 11 Luật Quản lý thuế 2025 quy định mã số thuế của cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là số định danh cá nhân của cá nhân, chủ hộ gia đình, chủ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được cấp theo quy định của pháp luật về căn cước.
Đồng thời, tại đ khoản 3 Điều 6 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định về Thời hạn đăng ký thuế như sau:
Thời hạn đăng ký thuế
...
3. Người nộp thuế thuộc đối tượng đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Quản lý thuế thì thời hạn đăng ký thuế như sau:
...
đ) Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm đăng ký thuế lần đầu thay cho cá nhân có thu nhập chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân của kỳ đầu tiên phát sinh việc chi trả thu nhập cho cá nhân trong trường hợp cá nhân chưa đăng ký thuế; đăng ký thuế lần đầu thay cho người phụ thuộc của cá nhân chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế;
...
Ngoài ra, tại Điều 37 Thông tư 90/2026/TT-BTC có quy định chuyển tiếp như sau:
Quy định chuyển tiếp
...
2. Người nộp thuế đã được cấp mã số thuế trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục sử dụng mã số thuế đã được cấp, riêng trường hợp cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật số 108/2025/QH15 thì sử dụng số định danh cá nhân làm mã số thuế.
3. Trường hợp cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật số 108/2025/QH15 đã được cấp mã số thuế trước ngày 01/7/2025 nhưng thông tin đăng ký thuế của cá nhân, chủ hộ gia đình, chủ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không khớp đúng với thông tin của cá nhân được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc không đầy đủ (được cơ quan thuế cập nhật mã số thuế sang trạng thái 10 “Mã số thuế chờ cập nhật thông tin số định danh cá nhân”), người nộp thuế phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế với cơ quan thuế theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 23 Thông tư này để đảm bảo thông tin khớp đúng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trước khi sử dụng số định danh cá nhân làm mã số thuế.
4. Trường hợp cá nhân đã được cấp nhiều hơn 01 (một) mã số thuế, người nộp thuế phải cập nhật thông tin số định danh cá nhân cho các mã số thuế đã được cấp để cơ quan thuế tích hợp các mã số thuế vào số định danh cá nhân, hợp nhất dữ liệu thuế của người nộp thuế theo số định danh cá nhân.
Khi mã số thuế đã được tích hợp vào số định danh cá nhân thì các hóa đơn, chứng từ, hồ sơ thuế, giấy tờ có giá trị pháp lý khác đã lập có sử dụng thông tin mã số thuế của cá nhân tiếp tục được sử dụng để thực hiện các thủ tục hành chính về thuế, chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ thuế mà không phải điều chỉnh thông tin mã số thuế trên hóa đơn, chứng từ, hồ sơ thuế sang số định danh cá nhân.
5. Cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện tra cứu thông tin đăng ký thuế đã được cơ quan thuế đối chiếu khớp đúng hoặc không khớp đúng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Hệ thống thông tin quản lý thuế hoặc trên tài khoản giao dịch điện tử. Trường hợp thông tin có sai sót, người nộp thuế liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc Thuế cơ sở nơi cá nhân cư trú để cập nhật thông tin chính xác vào Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế.
...
Theo quy định trên, về nguyên tắc, kể từ ngày 01/7/2026, mã số thuế của cá nhân chính là số định danh cá nhân.
Số định danh cá nhân của công dân Việt Nam được quy định cụ thể tại Luật Căn cước 2023. Cụ thể, Điều 12 Luật Căn cước 2023 quy định:
(1) Số định danh cá nhân của công dân Việt Nam là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập cho công dân Việt Nam.
(2) Số định danh cá nhân của công dân Việt Nam do Bộ Công an thống nhất quản lý trên toàn quốc và xác lập cho mỗi công dân Việt Nam, không lặp lại ở người khác.
(3) Số định danh cá nhân của công dân Việt Nam dùng để cấp thẻ căn cước, khai thác thông tin về công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, trung tâm dữ liệu quốc gia và cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính.
Do đó, dãy 12 số được thể hiện trên thẻ căn cước của công dân chính là số định danh cá nhân của người đó. Vì vậy, khi nói theo cách thông thường rằng “số CCCD là mã số thuế cá nhân” thì về bản chất có thể hiểu được, nhưng thuật ngữ pháp lý chính xác vẫn là số định danh cá nhân.
Như vậy, kể từ ngày 01/7/2026, mã số thuế của cá nhân chính là số định danh cá nhân. Số định danh cá nhân của công dân Việt Nam là dãy 12 số được thể hiện trên thẻ căn cước nên trong cách gọi thông thường có thể hiểu mã số thuế cá nhân chính là số CCCD.
Vậy "có số CCCD thì có nghĩa là đã đăng ký thuế hay chưa?"
Việc pháp luật quy định mã số thuế của cá nhân là số định danh cá nhân không đồng nghĩa với việc cứ có số định danh cá nhân là hệ thống thuế đã có đầy đủ thông tin đăng ký thuế của cá nhân.
Thay vào đó, pháp luật vẫn quy định về thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân.
Cụ thể, Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập trong việc đăng ký thuế lần đầu thay cho cá nhân có thu nhập trong trường hợp cá nhân chưa đăng ký thuế. Theo đó, tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện đăng ký thuế lần đầu thay cho cá nhân có thu nhập chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân của kỳ đầu tiên phát sinh việc chi trả thu nhập cho cá nhân trong trường hợp cá nhân chưa đăng ký thuế.
Thông tư 90/2026/TT-BTC cũng quy định trường hợp cá nhân đăng ký thuế thông qua cơ quan chi trả thu nhập thì cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm thông báo mã số thuế cho từng cá nhân để sử dụng trong việc khấu trừ, kê khai và nộp thuế theo quy định.
Do đó, cần hiểu rằng số định danh cá nhân chính là mã số thuế của cá nhân theo quy định hiện hành nhưng việc cá nhân đã có thông tin đăng ký thuế trên hệ thống của cơ quan thuế hay chưa vẫn là vấn đề cần được xác định thông qua dữ liệu đăng ký thuế.
Lưu ý: Mặc dù chưa đăng ký nhưng không ít người đã có mã số thuế nên phải tra cứu mã số thuế cá nhân trước khi đăng ký.

Mã số thuế cá nhân có phải là số CCCD không? (Hình từ internet)
Hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế cá nhân gồm những gì?
Theo khoản 5, 6, 7 Điều 27 Thông tư 90/2026/TT-BTC, hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế từ 01/7/2026 như sau:
Các trường hợp và hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế
...
2. Mã số thuế của cá nhân bị chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau:
a) Cá nhân chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật;
b) Số định danh cá nhân bị hủy theo quy định của pháp luật về căn cước;
c) Mã số thuế cá nhân do cơ quan thuế đã cấp có thông tin quốc tịch là người Việt Nam nhưng thông tin xác định danh tính của cá nhân (gồm: họ và tên, số giấy tờ, ngày tháng năm sinh) không khớp đúng hoặc không đủ thông tin để xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và không còn nghĩa vụ nộp thuế chưa hoàn thành theo dữ liệu quản lý của cơ quan thuế.
...
5. Hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều này là Văn bản đề nghị chấm dứt hiệu lực mã số thuế mẫu số 24/ĐKT ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này trong trường hợp cá nhân chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự là các giấy tờ liên quan của cơ quan có thẩm quyền xác nhận cá nhân đã chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự (giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc các giấy tờ thay cho giấy báo tử theo quy định của pháp luật về hộ tịch, hoặc quyết định của tòa án tuyên bố một người là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự); hoặc thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác định cá nhân đã chết, mất tích.
7. Hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này là Tờ khai đăng ký thuế mẫu số 03-ĐKT hoặc mẫu số 05-ĐKT có thông tin “Số định danh cá nhân đã cấp trước đó (trong trường hợp cá nhân được xác lập lại số định danh cá nhân)”, hoặc thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác định số định danh cá nhân bị hủy.
...
Như vậy, theo quy định trên, từ ngày 01/7/2026, hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế của cá nhân được xác định theo từng trường hợp, cụ thể:
- Đối với cá nhân kinh doanh chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo điểm a khoản 1 Điều 27 Thông tư 90/2026/TT-BTC, hồ sơ gồm Văn bản đề nghị chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo Mẫu số 24/ĐKT ban hành kèm theo Thông tư 90/2026/TT-BTC. Tải về
- Đối với cá nhân chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự, hồ sơ gồm giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế theo quy định của pháp luật về hộ tịch; quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự, hoặc thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác định cá nhân đã chết, mất tích.
- Đối với trường hợp số định danh cá nhân bị hủy theo quy định của pháp luật về căn cước, hồ sơ gồm Tờ khai đăng ký thuế Mẫu số 03-ĐKT hoặc Mẫu số 05-ĐKT có thông tin về số định danh cá nhân đã cấp trước đó (đối với trường hợp cá nhân được xác lập lại số định danh cá nhân), hoặc thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác định số định danh cá nhân bị hủy.
Mã số thuế cá nhân có phải là một dữ liệu cá nhân cơ bản không?
Hiện hành, mã số thuế cá nhân chính là số định danh cá nhân của người nộp thuế (đã giải thích tại mục 1).
Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 3 Nghị định 356/2025/NĐ-CP quy định về danh mục dữ liệu cá nhân cơ bản như sau:
Danh mục dữ liệu cá nhân cơ bản
Dữ liệu cá nhân cơ bản bao gồm:
...
5. Quốc tịch;
6. Hình ảnh của cá nhân;
7. Số điện thoại, số định danh cá nhân, số hộ chiếu, số giấy phép lái xe, số biển số xe;
8. Tình trạng hôn nhân;
9. Thông tin về mối quan hệ gia đình (cha mẹ, con, vợ, chồng);
10. Thông tin về tài khoản số của cá nhân;
11. Các thông tin khác gắn liền với một con người cụ thể hoặc giúp xác định một con người cụ thể không thuộc quy định tại Điều 4 Nghị định này.
Từ những căn cứ trên, số định danh cá nhân là một trong những thông tin thuộc danh mục dữ liệu cá nhân cơ bản từ ngày 01/01/2026.
Do đó, mã số thuế cá nhân được xác định là số định danh cá nhân mà số định danh cá nhân lại là một trong những dữ liệu thuộc danh mục dữ liệu cá nhân cơ bản. Vậy nên, mã số thuế cá nhân cũng sẽ là một trong những dữ liệu cá nhân cơ bản.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];