File Công văn 4848/SNV-LĐTLĐN về bỏ giấy phép cho thuê lại lao động theo Nghị quyết 66?
Công văn 4848/SNV-LĐTLĐN ngày 01/7/2026 của Sở Nội vụ Hà Nội hướng dẫn doanh nghiệp cho thuê lại lao động thực hiện các quy định mới theo Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP.
Nội dung công văn hướng dẫn về việc không còn thực hiện thủ tục cấp phép, quản lý tiền ký quỹ, thông báo hoạt động và chấm dứt hoạt động, báo cáo định kỳ hằng quý.
Theo đó, nhằm triển khai Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 của Chính phủ về việc phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, để đảm bảo các doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động trên địa bàn kịp thời cập nhật thông tin và thực hiện đúng các quy định của pháp luật hiện hành, Sở Nội vụ thông báo và hướng dẫn chi tiết các nội dung thay đổi trọng tâm như sau:
- Không thực hiện thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động
- Không thực hiện thủ tục gia hạn giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động
- Không thực hiện thủ tục cấp lại giấy phép họat động cho thuê lại lao động
- Không thực hiện thủ tục thu hồi giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động
- Không thực hiện thủ tục nộp bổ sung tiền ký quỹ
(Chi tiết quy định tại khoản C.I phụ lục 14 ban hành kèm theo Nghị quyết)
Xem chi tiết nội dung hướng dẫn tại Công văn 4848/SNV-LĐTLDN ngày 01/7/2026
Tải về Công văn 4848/SNV-LĐTLDN ngày 01/7/2026
Lưu ý: Từ 01/7/2026, không còn thủ tục cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, nhưng doanh nghiệp vẫn được và vẫn phải đáp ứng các điều kiện để hoạt động cho thuê lại lao động.

File Công văn 4848/SNV-LĐTLĐN về bỏ giấy phép cho thuê lại lao động theo Nghị quyết 66? (Hình từ Internet)
Doanh nghiệp cho thuê lại lao động có nghĩa vụ báo cáo định kỳ cho cơ quan nào?
Theo Điều 56 Bộ luật Lao động 2019 quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cho thuê lại lao động như sau:
Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cho thuê lại lao động
Ngoài các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 6 của Bộ luật này, doanh nghiệp cho thuê lại lao động có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Bảo đảm đưa người lao động có trình độ phù hợp với những yêu cầu của bên thuê lại lao động và nội dung của hợp đồng lao động đã ký với người lao động;
2. Thông báo cho người lao động biết nội dung của hợp đồng cho thuê lại lao động;
3. Thông báo cho bên thuê lại lao động biết sơ yếu lý lịch của người lao động, yêu cầu của người lao động;
4. Bảo đảm trả lương cho người lao động thuê lại không thấp hơn tiền lương của người lao động của bên thuê lại lao động có cùng trình độ, làm cùng công việc hoặc công việc có giá trị như nhau;
5. Lập hồ sơ ghi rõ số lao động đã cho thuê lại, bên thuê lại lao động và định kỳ báo cáo cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
6. Xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động khi bên thuê lại lao động trả lại người lao động do vi phạm kỷ luật lao động.
Như vậy doanh nghiệp cho thuê lại lao động có nghĩa vụ lập hồ sơ ghi rõ số lao động đã cho thuê lại, bên thuê lại lao động và báo cáo định kỳ cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Đồng thời theo STT XI phần C mục I phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP:
XI. Doanh nghiệp cho thuê lại lao động thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 31 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP như sau
1. Định kỳ hằng quý (trước ngày 05 của tháng đầu quý), doanh nghiệp phải báo cáo tình hình cho thuê lại lao động đến Sở Nội vụ nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, đồng thời báo cáo Sở Nội vụ nơi doanh nghiệp đến hoạt động cho thuê lại lao động theo Mẫu số 03 Phụ lục I.4 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Doanh nghiệp cho thuê lại lao động có nghĩa vụ báo cáo định kỳ hằng quý cho Sở Nội vụ nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, đồng thời báo cáo Sở Nội vụ nơi doanh nghiệp đến hoạt động cho thuê lại lao động.
Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định thế nào?
Căn cứ theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 quy định về kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Kỳ tính thuế
1. Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính do doanh nghiệp lựa chọn, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn năm tài chính khác với năm dương lịch thì thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thực hiện.
2. Kỳ tính thuế đối với doanh nghiệp quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 Điều 2 của Luật này thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Như vậy, theo quy định trên thì kỳ tính thuế TNDN được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính do doanh nghiệp lựa chọn, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 .
Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn năm tài chính khác với năm dương lịch thì thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thực hiện.
Kỳ tính thuế đối với doanh nghiệp quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];