Công văn 3291/DLA-NVDTPC về miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp như thế nào?

08:25 | 29/09/2026
Công văn 3291/DLA-NVDTPC về miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp như thế nào? Kỳ tính thuế TNCN được xác định như thế nào?
Nội dung chính
  1. Công văn 3291/DLA-NVDTPC về miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp như thế nào?
  2. Xác định sản phẩm nông sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được miễn thuế TNCN ra sao?
  3. Kỳ tính thuế TNCN được xác định như thế nào?

Công văn 3291/DLA-NVDTPC về miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp như thế nào?

Thuế tỉnh Đắk Lắk đã có Công văn 3291/DLA-NVDTPC ngày 25/9/2026 về tuyên truyền chính sách miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và sản xuất muối.

>> Tải về Công văn 3291/DLA-NVDTPC năm 2026

Để các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn toàn tỉnh có thu nhập từ hoạt động SXNN tự rà soát, xác định thuộc trường hợp được miễn thuế hoặc phải nộp thuế. Thuế tỉnh Đắk Lắk tuyên truyền, phổ biến một số nội dung liên quan đến chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với thu nhập từ hoạt động SXNN như sau:

(1) Thu nhập được miễn thuế

Tại khoản 4 Điều 4 Chương I, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, quy định thu nhập được miễn thuế gồm: “Thu nhập của hộ gia đình, cả nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường; sản xuất muối..."

Khoản 1 Điều 21 Mục I, Chương III, Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân: “1. Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường; sản xuất muối.”

(2) Điều kiện để được miễn thuế TNCN

Khoản 2, khoản 3 Điều 21 Mục I, Chương III, Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về các điều kiện được miễn thuế TNCN như sau:

Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường; sản xuất muối
...
2. Việc miễn thuế đối với thu nhập của hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có quyền sử dụng đất, quyền thuê đất trong hợp đồng thuê đất (bao gồm cả đất có mặt nước), quyền sử dụng mặt nước, quyền thuê mặt nước hợp pháp để sản xuất và trực tiếp tham gia lao động sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt, sản xuất muối.
Trường hợp đi thuê lại đất, mặt nước của tổ chức, cá nhân khác thì phải có văn bản thuê đất, mặt nước theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng rừng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng theo quy định pháp luật). Đối với hoạt động đánh bắt thủy sản phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc hợp đồng thuê tàu, thuyền sử dụng vào mục đích đánh bắt và trực tiếp tham gia hoạt động đánh bắt thủy sản (trừ trường hợp đánh bắt thủy sản trên sông bằng hình thức đáy sông (đáy cá) và không thuộc những hoạt động khai thác thủy sản bị cấm theo quy định của pháp luật);
b) Thực tế có nơi cư trú tại địa phương nơi diễn ra hoạt động sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt, sản xuất muối.
Địa phương nơi diễn ra hoạt động sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, sản xuất muối quy định tại điểm này tính theo đơn vị hành chính cấp xã, kể cả xã giáp ranh với xã diễn ra hoạt động sản xuất.
Riêng đối với hoạt động đánh bắt thủy sản thì không phụ thuộc nơi cư trú.
3. Việc xác định sản phẩm chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định tại Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và các văn bản sửa đổi, bổ sung.

Căn cứ các quy định nêu trên, để việc miễn thuế TNCN đảm bảo đúng theo các quy định, Thuế tỉnh Đắk Lắk đề nghị các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và sản xuất muối (sau đây gọi chung là sản xuất nông nghiệp) tự kiểm tra, rà soát và xác định thuộc trường hợp được miễn thuế, nếu đáp ứng đầy đủ các quy định sau:

- Có thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp

- Trực tiếp tham gia lao động sản xuất nông nghiệp

- Có quyền sử dụng đất; quyền thuê đất; quyền sử dụng mặt nước, quyền thuê mặt nước

- Thực tế có nơi cư trú tại địa phương nơi diễn ra hoạt động SXNN; Địa phương nơi diễn ra hoạt động SXNN theo đơn vị hành chính cấp xã. Riêng đối với hoạt động đánh bắt thủy sản thì không phụ thuộc nơi cư trú. Nơi cư trú của công dân bao gồm: Nơi thường trú hoặc nơi tạm trú (Theo quy định tại Điều 11, Luật Cư trú 2020 của Quốc hội)

- Sản phẩm bán ra chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường. Sản phẩm sơ chế thông thường theo hướng dẫn tại khoản 1, Điều 4, Nghị định 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2024.

Trường hợp qua kiểm tra, rà soát nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định nêu trên thì thuộc trường hợp phải đăng ký thuế, thực hiện kê khai thuế và nộp thuế theo quy định.

Công văn 3291/DLA-NVDTPC về miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp như thế nào?

Công văn 3291/DLA-NVDTPC về miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp như thế nào? (Hình từ Internet)

Xác định sản phẩm nông sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được miễn thuế TNCN ra sao?

Theo Điều 21 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định đối tượng sản xuất nông nghiệp được miễn thuế TNCN là các sản phẩm nông sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.

Việc xác định sản phẩm chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường thực hiện theo quy định tại Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 và các văn bản sửa đổi, bổ sung.

Theo đó tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP có hướng dẫn tiêu chí xác định như sau:

Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.

Trường hợp không xác định được thì Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt do người nộp thuế cung cấp để xác định là sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu theo quy định của pháp luật.

Kỳ tính thuế TNCN được xác định như thế nào?

Căn cứ theo Điều 66 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định xác định kỳ tính thuế TNCN như sau:

(1) Đối với cá nhân cư trú kỳ tính thuế được xác định như sau:

- Kỳ tính thuế theo năm dương lịch đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân.

+ Trường hợp trong 01 năm dương lịch, cá nhân đáp ứng điều kiện là cá nhân cư trú thì kỳ tính thuế được tính theo năm dương lịch.

+ Trường hợp trong 01 năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Từ năm thứ hai, thì kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch nếu cá nhân đáp ứng điều kiện là cá nhân cư trú trong năm dương lịch và việc xác định số thuế còn phải nộp trong năm tính thuế thứ 2 cụ thể như sau:

Số thuế còn phải nộp năm tính thuế thứ 2 = Số thuế phải nộp của năm tính thuế thứ 2 - Số thuế tính trùng được trừ

Trong đó:

- Số thuế phải nộp của năm tính thuế thứ 2 = Thu nhập tính thuế của năm tính thuế thứ 2 x Thuế suất

- Số thuế tính trùng được trừ được xác định như sau:

- Kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm cả thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ tiền bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng; thu nhập khác.

(2) Đối với cá nhân không cư trú, kỳ tính thuế được xác định như sau:

Kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú được tính theo từng lần phát sinh thu nhập.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất