Khoản trợ cấp thôi việc thanh toán vào tháng sau khi kết thúc HĐLĐ có bị khấu trừ 10% thuế TNCN không?
Trường hợp doanh nghiệp thanh toán khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động vào tháng sau khi chấm dứt hợp đồng lao động không đồng nghĩa với việc khoản tiền này phải khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân. Việc xác định nghĩa vụ khấu trừ cần căn cứ vào bản chất của khoản chi và quy định về thu nhập chịu thuế.
Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:
Thu nhập từ tiền lương, tiền công
...
3. Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác, trừ các khoản sau:
...
h) Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tổ chức, doanh nghiệp có quy định cụ thể tại quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ hoặc hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động về mức trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cao hơn mức quy định của pháp luật thì phần chi trả thực tế vượt mức này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động;
...
Theo đó, thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm các khoản phụ cấp, trợ cấp và thu nhập khác là những khoản thu nhập chịu thuế TNCN. Tuy nhiên, đối với khoản trợ cấp thôi việc là khoản thuộc diện không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Trong khi đó, khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định trường hợp tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký HĐLĐ dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt HĐLĐ) mà mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả.
Nội dung này cũng được Thuế Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn tại Công văn 12004/TTPHCM-QLDN3 năm 2026 Tải về về khấu trừ 10% thuế TNCN đối với các khoản chi trả cho người lao động sau khi chấm dứt HĐLĐ.
Theo đó, trường hợp doanh nghiệp phát sinh chi trả các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công từ 05 triệu đồng/lần trở lên cho người lao động sau khi chấm dứt HĐLĐ thì thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo quy định. Tuy nhiên, các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc theo quy định của pháp luật thuộc trường hợp miễn thuế TNCN và không tính vào thu nhập chịu thuế.
Như vậy, nếu doanh nghiệp thanh toán khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động vào tháng sau khi HĐLĐ chấm dứt thì việc thanh toán sau thời điểm nghỉ việc không làm phát sinh nghĩa vụ khấu trừ 10% TNCN đối với khoản trợ cấp này.
Ngoài ra, trường hợp doanh nghiệp có quy định cụ thể tại quy chế tài chính, quy chế nội bộ, HĐLĐ hoặc thỏa ước lao động về mức trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cao hơn mức quy định của pháp luật thì phần chi trả thực tế vượt mức này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Do đó, đối với khoản trợ cấp thôi việc được doanh nghiệp chi trả sau khi người lao động đã chấm dứt HĐLĐ, doanh nghiệp không khấu trừ 10% thuế TNCN mặc dù khoản tiền được trả sau thời điểm nghỉ việc.

Khoản trợ cấp thôi việc thanh toán vào tháng sau khi kết thúc HĐLĐ có bị khấu trừ 10% thuế TNCN không? (Hình từ Internet)
Doanh nghiệp không trả tiền trợ cấp thôi việc có thể bị phạt đến 40 triệu đồng đúng không?
Căn cứ tại khoản 2 Điều 18 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định mức phạt tiền khi vi phạm quy định về chấm dứt hợp đồng lao động như sau:
Vi phạm quy định về sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động
...
2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Sửa đổi thời hạn của hợp đồng bằng phụ lục hợp đồng lao động; không thực hiện đúng quy định về thời hạn thanh toán các khoản về quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền cho người lao động theo quy định của pháp luật khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật; không hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; không cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
...
Theo Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc áp dụng mức phạt tiền như sau:
Mức phạt tiền và nguyên tắc áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính nhiều lần
1. Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân; trừ trường hợp quy định tại: Điều 8; Điều 9; khoản 3 Điều 10; khoản 3, 4, 5, 6 Điều 19; khoản 2, 4 Điều 36; khoản 1 Điều 37; khoản 1, 5, 6, 7, 8 Điều 38; khoản 3 Điều 42; khoản 6, 11 Điều 48; Điều 49; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 50; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 52; khoản 4 Điều 53 của Nghị định này là mức phạt đối với tổ chức. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
2. Tổ chức bị xử phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân trong Nghị định này bao gồm:
...
Như vậy, trường hợp doanh nghiệp không trả tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động có thể áp dụng mức phạt tiền tối đa từ 30.000.000 đồng - 40.000.000 đồng, mức phạt tiền đối với cá nhân từ 15.000.000 đồng - 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Ngoài ra, trường hợp người sử dụng lao động không trả tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động, ngoài việc bị phạt tiền thì còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả sau:
- Buộc trả đủ tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động
- Buộc trả khoản tiền lãi của số tiền trợ cấp thôi việc chưa trả tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Lưu ý: Mức phạt tiền nêu tiền nêu trên là mức xử phạt đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức vi phạm thì mức phạt tiền bằng 02 lần cá nhân.
Có được hưởng trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động trái luật không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 40 Bộ Luật lao động 2019 quy định về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:
Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Không được trợ cấp thôi việc.
2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.
Như vậy, theo quy định trên khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì khi đó người lao động sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];