Điều kiện miễn thuế TNCN tiền lương làm đêm và giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN?
(1) Điều kiện miễn thuế TNCN tiền lương làm đêm
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:
Tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép
1. Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.
...
3. Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Theo đó, sẽ miễn thuế TNCN tiền lương làm đêm nếu phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.
Đối chiếu với pháp luật về lao động, căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 quy định:
Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm
...
2. Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.
3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.
Từ quy định này, có thể thấy để được miễn thuế TNCN tiền lương làm đêm nếu nơi làm việc chi trả tiền lương làm đêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.
Bên cạnh đó, liên quan đến thời gian làm đêm được quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao động 2019 như sau:
Giờ làm việc ban đêm
Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.
Điều này, cũng được hướng dẫn cụ thể tại Công văn 7077/NBI-QLDN3 năm 2026:
...
Theo đó, tiền lương, tiền công Công ty trả cho người lao động cho thời gian làm việc ban đêm theo quy định tại Điều 106 Bộ Luật lao động 2019 (Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau) thuộc thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025. Các khoản tiền lương, tiền công Công ty trả cho thời gian làm việc ca đêm ngoài thời gian nêu trên và không phải tiền lương làm thêm giờ theo quy định của pháp luật thì không thuộc thu nhập được miễn thuế theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.
...
>>> Tải về Công văn 7077/NBI-QLDN3 năm 2026.
Như vậy, chỉ những nơi làm việc đảm bảo điều kiện về tiền lương và thời gian làm việc đúng quy định thì mới đủ điều kiện miễn thuế TNCN tiền lương làm đêm.
(2) Điều kiện giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN
Căn cứ vào khoản 1 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:
Khấu trừ thuế
1. Trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, khi tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người nộp thuế phải thực hiện khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân căn cứ vào:
a) Thu nhập tính thuế tháng (đối với các khoản thu nhập do tổ chức, cá nhân chi trả, chi trả thay cho cá nhân);
b) Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật Thuế thu nhập cá nhân.
...
Dẫn chiếu thêm khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:
Quyết toán thuế
...
3. Trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân có đề nghị giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo quy định tại Điều 40 của Nghị định này hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ quy định tại Điều 49 của Nghị định này mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế.
4. Hồ sơ, thủ tục quyết toán thuế, ủy quyền quyết toán thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Như vậy, trường hợp người lao động có phát sinh khoản chi y tế, giáo dục - đào tạo đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định và có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế căn cứ hồ sơ, hóa đơn, chứng từ do người lao động cung cấp để xác định khoản giảm trừ theo quy định.
Điều này cũng được hướng dẫn chi tiết hơn theo tinh thần của Công văn 11805/NBI-QLDN1 năm 2026 về chính sách thuế thu nhập cá nhân do Thuế tỉnh Ninh Bình ban hành:
...
Căn cứ các quy định trên, trường hợp người lao động có phát sinh khoản chi y tế, giáo dục - đào tạo đáp ứng đầy đủ điều kiện quy định tại Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP và có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì Công ty căn cứ hồ sơ, hóa đơn, chứng từ do người lao động cung cấp để xác định khoản giảm trừ theo quy định. Người lao động có yêu cầu áp dụng các khoản giảm trừ nêu trên phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN theo khoản 3 Điều 51 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP và không thuộc trường hợp ủy quyền cho Công ty quyết toán thay. Khi thực hiện khai quyết toán thuế TNCN năm 2026 với tư cách là tổ chức trả thu nhập, Công ty thực hiện kê khai theo các mẫu biểu quy định tại điểm 7.1 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính. Riêng việc thể hiện khoản giảm trừ này trên chứng từ khấu trừ thuế TNCN, Công ty thực hiện theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 254/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử.
...
Tóm lại, khi phát sinh các chi phí y tế, giáo dục đáp ứng đủ điều kiện giảm trừ và người lao động có đề nghị thì Công ty căn cứ hồ sơ, hóa đơn, chứng từ do người lao động cung cấp để xác định khoản giảm trừ theo quy định.
Cụ thể, theo khoản 2, khoản 3 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP thì:
- Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
+ Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
+ Các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo.
- Các khoản chi phí mà người nộp thuế được giảm trừ trên phải đáp ứng các điều kiện sau:
+ Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
+ Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế;
+ Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
Trên đây là nội dung bài viết tham khảo về "Điều kiện miễn thuế TNCN tiền lương làm đêm và giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN?"

Điều kiện miễn thuế TNCN tiền lương làm đêm và giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN? (Hình từ Internet)
Giảm trừ gia cảnh được quy định thế nào hiện nay?
Căn cứ vào Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định:
(1) Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm:
- Mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
- Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
(2) Căn cứ biến động của giá cả, thu nhập, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức giảm trừ gia cảnh quy định tại (1) phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
(3) Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế.
(4) Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
- Con chưa thành niên; con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật, không có khả năng lao động;
- Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
Nguyên tắc giảm trừ gia cảnh như thế nào?
Căn cứ vào Điều 48 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về nguyên tắc giảm trừ gia cảnh như sau:
(1) Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế
- Người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công thì tại một thời điểm người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi trả thu nhập (được tính đủ theo tháng);
- Trường hợp trong năm tính thuế cá nhân chưa giảm trừ cho bản thân hoặc giảm trừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được giảm trừ đủ 12 tháng khi thực hiện quyết toán thuế theo quy định;
- Đối với người nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam được tính giảm trừ cho bản thân từ tháng một hàng năm hoặc từ tháng đến Việt Nam trong trường hợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng lao động và rời Việt Nam trong năm tính thuế (được tính đủ theo tháng).
(2) Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc
- Người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu người nộp thuế đã đăng ký thuế và đăng ký người phụ thuộc. Thời hạn đăng ký người phụ thuộc cùng với hồ sơ chứng minh người phụ thuộc trước ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế và thực hiện ổn định cho các năm sau nếu không có thay đổi.
Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng;
- Khi người nộp thuế đăng ký giảm trừ cho người phụ thuộc sẽ được tạm tính giảm trừ gia cảnh trong năm kể từ khi đăng ký người phụ thuộc (được tính đủ theo tháng).
Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trường hợp có thay đổi về thỏa thuận thì việc thay đổi áp dụng cho kỳ tính thuế tiếp theo;
- Trường hợp người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công thì được lựa chọn nơi đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc và phải đảm bảo mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];