Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thì phần nợ còn lại được tính như thế nào khi áp dụng thủ tục phá sản?

13:50 | 06/03/2026
Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thì phần nợ còn lại được tính như thế nào khi áp dụng thủ tục phá sản?
Nội dung chính
  1. Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thì phần nợ còn lại được tính như thế nào khi áp dụng thủ tục phá sản?
  2. Tiền lãi đối với khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định như thế nào?
  3. Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm thực hiện hoạt động nào?

Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thì phần nợ còn lại được tính như thế nào khi áp dụng thủ tục phá sản?

Căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 44 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định về xử lý khoản nợ có bảo đảm khi áp dụng thủ tục phá sản như sau:

Điều 44. Xử lý khoản nợ có bảo đảm
1. Sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề xuất Thẩm phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm như sau:
a) Trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì việc xử lý đối với tài sản bảo đảm theo nghị quyết của Hội nghị chủ nợ chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý của chủ nợ của tài sản bảo đảm đó;
b) Trường hợp không thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm không cần thiết cho việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì xử lý theo thời hạn quy định trong hợp đồng đối với hợp đồng có bảo đảm đã đến hạn. Đối với hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn thì khi tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, Thẩm phán đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo đảm. Việc xử lý khoản nợ có bảo đảm theo quy định tại khoản 2 Điều này. Không áp dụng quy định tại điểm này đối với trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 42 của Luật này.
2. Việc xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện như sau:
a) Đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
b) Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại trở thành khoản nợ không có bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
3. Trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá trị thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị Thẩm phán cho xử lý ngay tài sản bảo đảm đó theo quy định tại khoản 2 Điều này.
[...]

Theo đó, trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại trở thành khoản nợ không có bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

*Trên đây là thông tin bài viết Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thì phần nợ còn lại được tính như thế nào khi áp dụng thủ tục phá sản?

Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thì phần nợ còn lại được tính như thế nào

Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thì phần nợ còn lại được tính như thế nào khi áp dụng thủ tục phá sản? (Hình từ Internet)

Tiền lãi đối với khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định như thế nào?

Căn cứ tại Điều 43 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định về xác định tiền lãi đối với khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã như sau:

[1] Kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ được tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản theo quy định tại Điều 64 Luật Phục hồi, phá sản 2025 thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện việc trả lãi theo thỏa thuận.

[2] Đối với khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của khoản nợ đó được xác định theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật.

[3] Kể từ ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì các khoản nợ không được tiếp tục tính lãi.

Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm thực hiện hoạt động nào?

Căn cứ tại khoản 2 Điều 42 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm thực hiện hoạt động sau đây:

- Cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản;

- Từ bỏ quyền đòi nợ;

- Thanh toán khoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản, khoản trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã;

- Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

- Phân chia lợi nhuận, phân phối thu nhập.

*Trên đây là thông tin bài viết Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thì phần nợ còn lại được tính như thế nào khi áp dụng thủ tục phá sản?

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Văn Tấn Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Doanh nghiệp Xem thêm

Bài viết mới nhất