Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp có bao nhiêu chương bao nhiêu điều?

Nguyễn Thị Kim Linh 231 lượt xem
12:30 | 05/10/2025
Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp có bao nhiêu chương bao nhiêu điều? Loại đất nào chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp?
Nội dung chính
  1. Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp có bao nhiêu chương bao nhiêu điều?
  2. Loại đất nào chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp?
  3. Năm thuế sử dụng đất nông nghiệp tính theo năm dương lịch hay âm lịch?
  4. Giá thóc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp do ai quyết định?

Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp có bao nhiêu chương bao nhiêu điều?

Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp mới nhất là Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993.

Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993 có 9 Chương và 39 Điều.

Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993 được Quốc hội thông qua ngày 10/07/1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1994.

Tải về Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993:

Tải về

Xem thêm:

>>> Đề xuất đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đến hết 31/12/2030 như thế nào?

>>> Mẫu CTT50 Biên lai thu thuế sử dụng đất nông nghiệp từ 01/7/2025 như thế nào?

Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp có bao nhiêu chương bao nhiêu điều?

Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp có bao nhiêu chương bao nhiêu điều? (Hình từ Internet)

Loại đất nào chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp?

Căn cứ theo Điều 2 Nghị định 74-CP năm 1993, các loại đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp gồm:

- Đất trồng trọt là đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ.

Đất trồng cây hàng năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng (từ khi trồng đến khi thu hoạch) không quá 365 ngày như lúa, ngô, rau, lạc... hoặc cây trồng một lần cho thu hoạch một vài năm nhưng không trải qua thời kỳ xây dựng cơ bản như mía, chuối, cói, gai, sả, dứa (thơm)..

Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng trên 365 ngày, trồng một lần nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm và phải trải qua một thời kỳ xây dựng cơ bản mới cho thu hoạch như cao su, chè, cà phê, cam, quýt, nhãn, cọ, dừa...

Đất trồng cỏ là đất đã có chủ sử dụng vào việc trồng cỏ để chăn nuôi gia súc.

- Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là đất đã có chủ sử dụng chuyên nuôi trồng thuỷ sản hoặc vừa nuôi trồng thuỷ sản vừa trồng trọt, nhưng về cơ bản không sử dụng vào các mục đích khác.

- Đất trồng là đất đã được trồng rừng và đã giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, chăm sóc và khai thác, không bao gồm đất đồi núi trọc.

Trong trường hợp không sử dụng đất thuộc diện chịu thuế theo quy định tại Điều 2 Nghị định 74-CP năm 1993 chủ sử dụng đất vẫn phải nộp thuế theo quy định của Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993.

Năm thuế sử dụng đất nông nghiệp tính theo năm dương lịch hay âm lịch?

Căn cứ theo Điều 11 Nghị định 74-CP năm 1993 quy định như sau:

Điều 11. Năm thuế sử dụng đất nông nghiệp tính theo năm dương lịch từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12.
Thuế tính cả năm nhưng thu mỗi năm từ 1 đến 2 lần tuỳ theo vụ thu hoạch chính của từng loại cây trồng ở từng địa phương.
Hộ nộp thuế có thể nộp thuế trước khi đến thời hạn thu thuế và ở lần thu thuế đầu tiên có thể nộp hết số thuế phải nộp cả năm.
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Thuế, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc vụ thu thuế và công bố cho toàn dân biết.
Trong trường hợp đặc biệt ở những nơi mà sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1994 chưa lập xong đã bước vào vụ thu thuế đầu tiên, Bộ Tài chính hướng dẫn việc tạm thu, cuối năm 1994 phải thanh quyết toán theo sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Như vậy, năm thuế sử dụng đất nông nghiệp tính theo năm dương lịch từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12.

Giá thóc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp do ai quyết định?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 12 Nghị định 74-CP năm 1993, giá thóc thu thuế sử dụng đất nông nghiệp là do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định sát giá thị trường và không được thấp hơn 10% so với giá trị thị trường địa phương.

Ở những tỉnh, thành phố, giá thóc giữa các vùng có sự chênh lệch lớn thì giá thóc thu thuế có thể quy định cho từng huyện, quận, thị xã.

Giá trị sản lượng tính thuế của cây lâu năm thu hoạch một lần (gỗ, tre, nứa, song, mây...) tính theo giá bán thực tế của từng loại cây. Trong trường hợp hộ nộp thuế kê khai giá thấp hơn so với giá thực tế, thì tính thuế theo giá do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định.

Sản lượng để xác định giá trị sản lượng tính thuế của các cây lâu năm thu hoạch một lần là sản lượng thu hoạch thực tế.

Nguyễn Thị Kim Linh
Nguyễn Thị Kim Linh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Thuế - Phí - Lệ Phí Xem thêm

Bài viết mới nhất