Căn cứ Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS)
Việc làm của bạn của bạn rõ ràng là hành vi vi phạm pháp luật.
Với những tình tiết bạn kể trên thì bạn của bạn có dấu hiệu phạm tội “Sử dụng trái phép tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 142 BLHS vì mục đích phạm tội là “vì vụ lợi” và đã nhiều lần thực hiện hành vi lấy tiền của công ty. Còn nếu bạn của bạn cố tình không muốn trả số tiền đã lấy của khách hàng nộp vào công ty thì có dấu hiệu chiếm đoạt và người này có thể bị truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 140 BLHS. Trong hai tội danh này đều có hình phạt bổ sung là người phạm tội có thể bị “cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong thời hạn từ một đến năm năm”.
Một khi công ty đó tố cáo lên công an thì nếu xét thấy có dấu hiệu của tội phạm, Cơ quan công an sẽ điều tra và khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Lúc này, cho dù bạn của bạn và phía công ty có thỏa thuận về việc trả lại số tiền đó thì bạn của bạn vẫn bị truy tố như thường, bởi đây không phải là vụ án thuộc diện khởi tố theo yêu cầu được quy định tại Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì vậy, Công ty của bạn của bạn đã cho thời gian thanh toán khoản tiền thì tốt nhất người bạn đó nên trả lại số tiền đã lấy và tìm cách thương lượng kéo dài thời gian trả nợ cho công ty thì hay hơn, để tránh rắc rối sau này.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];