Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 Gây rối trật tự công cộng phạt tù bao nhiêu năm?

Châu Nhật Tân
08:29 | 15/09/2026
Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 Gây rối trật tự công cộng phạt tù bao nhiêu năm?
Nội dung chính
  1. Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 Gây rối trật tự công cộng phạt tù bao nhiêu năm?
  2. Quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thế nào?
  3. Quy định về việc tái phạm, tái phạm nguy hiểm như thế nào?

Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 Gây rối trật tự công cộng phạt tù bao nhiêu năm?

Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội gây rối trật tự công cộng như sau:

Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng
1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
[...]

Như vậy, tội gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 thì người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 Gây rối trật tự công cộng phạt tù bao nhiêu năm?

Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 Gây rối trật tự công cộng phạt tù bao nhiêu năm? (Hình từ Internet)

Quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thế nào?

Theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi điểm a, b khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:

(1) Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm

- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra

- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra

- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn

- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng

- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức

- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra

- Phạm tội do lạc hậu

- Người phạm tội là phụ nữ có thai

- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên

- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng

- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

- Người phạm tội tự thú

- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cả

- Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ á

- Người phạm tội đã lập công chuộc tội

- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác

- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ

(2) Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

(3) Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Quy định về việc tái phạm, tái phạm nguy hiểm như thế nào?

Căn cứ Điều 53 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm như sau:

- Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý

- Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

+ Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý

+ Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Logo Thư viện Pháp luật
Châu Nhật Tân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự thế nào?

Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Bài viết mới nhất