Pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng và hành vi một người đang có vợ mà kết hôn với người khác hoặc người chưa có chồng mà kết hôn với người đang có vợ là hành vi bị cấm tại điểm c khoản 2 điều 5 luật hôn nhân và gia đình.
Do đó để giải quyết vấn đề của mình, bạn có quyền gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chồng bạn và người phụ nữ kia theo điểm a khoản 2 điều 10 luật hôn nhân và gia đình. Sau khi tòa án có quyết định về việc hủy kết hôn trái pháp luật thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
Mặt khác, người chồng của bạn còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo điểm a khoản 1 điều 48 nghị định 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi nghị định 67/2015/NĐ-CP); hoặc thậm chí còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “vi phạm chế độ một vợ, một chồng” theo điều 147 bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Riêng đối với người phụ nữ kia, nếu cô ấy biết việc chồng bạn đã kết hôn nhưng vẫn thực hiện việc đăng ký kết hôn với chồng bạn thì cũng phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự tương tự như chồng bạn.
Ngoài ra, nếu sau khi có quyết định của toàn án tiêu hủy việc kết hôn mà họ vẫn duy trì quan hệ đó thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 147 Bộ luật hình sự (tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng với mức phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];