Thay đổi căn cứ xử phạt đối với hành vi khi không đăng ký đầy đủ người lao động tham gia BHXH từ 10/09/2026 theo Nghị định 283?
Trước đây, tại khoản 5 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP đã quy định mức phạt từ 12%-15% tổng số tiền phải đóng nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đối với hành vi đóng bảo hiểm xã hội không đủ số người mà không phải là trốn đóng. Mức tối đa đối với tổ chức theo quy định cũ là 150 triệu đồng.
Tuy nhiên, chính phủ đã ban hành Nghị định 283/2026/NĐ-CP ngày 15/07/2026 thay thế Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực từ 10/09/2026.
Theo đó, tại Khoản 2 Điều 43 Nghị định 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức phạt đối với người sử dụng lao động có hành vi:
- Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn đăng ký;
- Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ sau thời hạn 60 ngày nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Mức phạt được xác định theo số người lao động chưa được đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ:
Số người lao động bị vi phạm | Mức phạt đối với cá nhân | Mức phạt đối với tổ chức |
Dưới 10 người | 05-10 triệu đồng | 10-20 triệu đồng |
Từ 10 đến dưới 50 người | 10-15 triệu đồng | 20-30 triệu đồng |
Từ 50 đến dưới 100 người | 15-20 triệu đồng | 30-40 triệu đồng |
Từ 100 đến dưới 300 người | 20-30 triệu đồng | 40-60 triệu đồng |
Từ 300 đến dưới 500 người | 30-40 triệu đồng | 60-80 triệu đồng |
Từ 500 đến dưới 700 người | 40-50 triệu đồng | 80-100 triệu đồng |
Từ 700 đến dưới 1.000 người | 50-60 triệu đồng | 100-120 triệu đồng |
Từ 1.000 người trở lên | 60-75 triệu đồng | 120-150 triệu đồng |
Như vậy, Nghị định 283/2026/NĐ-CP đã thay đổi căn cứ xử phạt đối với hành vi khi không đăng ký đầy đủ người lao động tham gia BHXH khi quy định các khung tiền phạt cụ thể căn cứ vào số người lao động bị vi phạm thay vì phạt từ 12%-15% căn cứ trên tổng số tiền phải đóng theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
Ngoài ra, theo khoản 4 Điều 43 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động còn bị buộc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ người tham gia, đóng đủ số tiền chậm đóng và nộp thêm số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng.
*Trên đây là nội dung Thay đổi căn cứ xử phạt đối với hành vi khi không đăng ký đầy đủ người lao động tham gia BHXH từ 10/09/2026 theo Nghị định 283?

Thay đổi căn cứ xử phạt đối với hành vi khi không đăng ký đầy đủ người lao động tham gia BHXH từ 10/09/2026 theo Nghị định 283? (Hình từ Internet)
Cách xác định số ngày chậm đóng BHXH bắt buộc được quy định hiện nay như thế nào?
Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định 274/2025/NĐ-CP quy định về số tiền, số ngày chậm đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp như sau:
Số tiền, số ngày chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp
Số tiền, số ngày chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội được quy định như sau:
1. Số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
a) Chậm đóng theo khoản 1 Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội: số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội còn phải đóng theo đăng ký sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội; số tiền bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động còn phải đóng theo đăng ký sau thời hạn đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất quy định theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
b) Chậm đóng theo khoản 2, khoản 3 Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội: số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội phải đóng cho người lao động chưa được đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội; số tiền bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động chưa được đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
c) Các trường hợp quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội nhưng không bị coi là trốn đóng theo Điều 4 Nghị định này: số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội phải đóng cho người lao động trong thời gian chưa tham gia bảo hiểm xã hội; số tiền bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
d) Các trường hợp quy định tại điểm c, điểm d, điểm đ, điểm e, điểm g khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội nhưng không bị coi là trốn đóng theo Điều 4 Nghị định này: số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp xác định theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
2. Số ngày chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
Số ngày chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được xác định bắt đầu từ ngày sau thời hạn đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội và thời hạn đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 28 và khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội hoặc sau thời hạn đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Theo đó, số ngày chậm đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được xác định bắt đầu từ ngày sau thời hạn đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội và thời hạn đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 28 và khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hoặc sau thời hạn đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
04 trường hợp được xem là chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là gì?
Căn cứ Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định 4 trường hợp được xem là chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hiện nay như sau:
Theo đó, chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp là hành vi của người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:
(1) Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đã đăng ký kể từ sau ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hoặc kể từ sau ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
(2) Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
(3) Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp;
(4) Thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];