Khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng có phải đóng BHXH không?

Nguyễn Ngọc Mỹ Duyên 110 lượt xem
13:30 | 08/08/2026
Khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng có phải đóng BHXH không? Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc là bao nhiêu?
Nội dung chính
  1. Khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng có phải đóng BHXH không?
  2. Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc là bao nhiêu?
  3. Phụ cấp tiền điện thoại có được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công không?

Khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng có phải đóng BHXH không?

Căn cứ theo Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về căn cứ đóng BHXH như sau:

Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
...
b) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc;
...

Tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định xác định tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc như sau:

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội và được quy định chi tiết như sau:
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, trong đó:
a) Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
b) Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương tại điểm a khoản này chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không bao gồm khoản phụ cấp lương phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động;
c) Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương theo quy định tại điểm a khoản này, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương; không bao gồm các khoản bổ sung khác phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động.
...

Theo đó, trường hợp người lao động được trả các khoản hỗ trợ xác định được mức tiền cụ thể, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương thì mức tiền lương tháng đó được xác định mức tiền lương đóng BHXH bắt buộc.

Đồng thời, theo Công văn 1198/CTL&BHXH-BHXH năm 2025 của Cục tiền lương và bảo hiểm xã hội đã trả lời về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc như sau: Đối với các chế độ và phúc lợi khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH không phải là tiền lương làm căn cứ tính đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, BHXH TP Hồ Chí Minh đã có Công văn 6101/BHXH-QLT năm 2026 Tải về hướng dẫn xác định mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc đối với khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng như sau:

1. Các khoản hỗ trợ điện thoại, đi lại, nhà ở nếu ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Thông tư số 10/2020/TTBLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) không phải là tiền lương thì không làm căn cứ tính đóng BHXH bắt buộc (kể cả trường hợp các khoản này được cố định và được chi trả ổn định hằng tháng).
Căn cứ để xác định mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc là nội dung được thỏa thuận trên hợp đồng lao động theo đúng quy định pháp luật.

Như vậy, không phải tất cả khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng đều được xác định mức tiền lương đóng BHXH bắt buộc.đóng BHXH bắt buộc mà căn cứ để xác định mức tiền lương làm đóng BHXH bắt buộc là các khoản tiền được thỏa thuận trên hợp đồng lao động theo đúng quy định pháp luật.

Cụ thể, đối với các khoản hỗ trợ điện thoại, đi lại, nhà ở nếu được ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH thì không phải là tiền lương và không làm căn cứ tính đóng BHXH bắt buộc, kể cả trường hợp các khoản hỗ trợ này được trả cố định hằng tháng.

Khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng có phải đóng BHXH không?

Khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng có phải đóng BHXH không? (Hình từ Internet)

Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc là bao nhiêu?

Theo khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau:

Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
...
đ) Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
2. Thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
3. Chính phủ quy định chi tiết điểm b khoản 1 Điều này; quy định việc truy thu, truy đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Theo đó, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.

Dẫn chiếu đến Điều 7 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về mức tham chiếu như sau:

Mức tham chiếu
1. Mức tham chiếu là mức tiền do Chính phủ quyết định dùng để tính mức đóng, mức hưởng một số chế độ bảo hiểm xã hội quy định trong Luật này.
2. Mức tham chiếu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế, phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội.

Đồng thời, tại khoản 13 Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có quy định chuyển tiếp như sau:

Quy định chuyển tiếp
...
13. Khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu quy định tại Luật này bằng mức lương cơ sở. Tại thời điểm mức lương cơ sở bị bãi bỏ thì mức tham chiếu không thấp hơn mức lương cơ sở đó.
...

Từ những căn cứ trên, có thể thấy, hiện nay chưa bãi bỏ mức lương cơ sở 2,34 triệu đồng theo Nghị định 73/2024/NĐ-CP thì mức tham chiếu bằng mức lương cơ sở. Khi bãi bỏ mức lương cơ sở 2,34 triệu đồng theo Nghị định 73/2024/NĐ-CP thì mức tham chiếu không thấp hơn mức lương cơ sở đó (tức mức tham chiếu không thấp hơn 2,34 triệu đồng).

Dẫn chiếu đến Điều 3 Nghị định 161/2026/NĐ-CP quy định kể từ ngày 01/7/2026 sẽ áp dụng mức lương cơ sở mới là 2.530.000 đồng/tháng.

Như vậy, mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất và cao nhất như sau:

- Mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất: 2.530.000 đồng.

- Mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cao nhất: 50.600.000 đồng.

Phụ cấp tiền điện thoại có được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công không?

Căn cứ theo Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:

Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Thu nhập từ tiền lương, tiền công quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
1. Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới mọi hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.
2. Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền mà cá nhân nhận được từ tổ chức, cá nhân, người sử dụng lao động dưới mọi hình thức:
...
đ) Phần khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục phục vụ công việc của cá nhân cao hơn mức quy định sau đây:
Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, hội, hiệp hội: mức khoán chi áp dụng theo văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy chế của cơ quan, tổ chức đó.
Đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh: mức khoán chi áp dụng phù hợp với việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức quốc tế, các văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài: mức khoán chi thực hiện theo quy định của tổ chức quốc tế, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài;
...

Như vậy, xác định thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản phụ cấp điện thoại cho người lao động từ ngày 01/07/2026 như sau:

- Khoản phụ cấp điện thoại cho người lao động phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 thì khoản chi này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.

- Trường hợp khoản phụ cấp điện thoại cho người lao động cao hơn mức khoán chi quy định thì phần chi cao hơn mức khoán chi quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật thường ngày Xem thêm

Bài viết mới nhất