Cơ quan thuế sẽ truy qua công an, ngân hàng nếu cố tình không nhận chuyển khoản không?
Đầu tiên, Căn cứ theo khoản 2 Điều 98 Luật Quản lý thuế 2019; khoản 2 Điều 30 Nghị định 126/2020/NĐ-CP thì cơ quan thuế hoàn toàn có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản, số liệu giao dịch của hộ kinh doanh để đối chiếu, so sánh số tiền giao dịch nhận được với doanh thu khai báo nhằm phục vụ cho mục đích thanh tra, kiểm tra xác định nghĩa vụ thuế phải nộp và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính (nếu có).
Đồng thời, theo Quyết định 3389/QĐ-BTC năm 2025 và Nghị định 117/2025/NĐ-CP, cơ quan thuế cũng có thể lấy dữ liệu từ các sàn mà hộ kinh doanh đang kinh doanh như Shopee, TikTok Shop, Lazada hoặc đơn vị vận chuyển như giao hàng tiết kiệm, giao hàng nhanh, Viettel Post,... Các đơn vị này báo cáo doanh số bán, số đơn hàng, phí vận chuyển về cho cơ quan thuế khi có yêu cầu.
Ngoài ra, trước đây Chi cục Thuế khu vực I cũng đã có thư ngỏ gửi hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình về việc một số cơ sở kinh doanh chỉ nhận tiền mặt nhằm "né thuế".

Theo quy định hiện nay thì hành vi treo biển "chỉ nhận tiền mặt" hoặc ghi nội dung chuyển khoản mập mờ – ví dụ "trả tiền mượn", "tiền cafe", "tiền ship"… để cơ quan chức năng gặp khó khăn khi xác định doanh thu không làm giảm nghĩa vụ thuế, mà ngược lại có thể trở thành dấu hiệu nghi ngờ cho hành vi che giấu doanh thu.
Một số trường hợp người bán yêu cầu thu thêm tiền của người mua nếu thanh toán bằng hình thức chuyển khoản không những ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua mà còn là hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Đối với các trường hợp người nộp thuế cố tình che dấu doanh thu, kê khai thuế không trung thực, đầy đủ sẽ bị xử lý truy thu, ấn định thuế, xử phạt hành vi khai sai, trốn thuế hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, từ những căn cứ trên nếu người kinh doanh cố tình không nhận chuyển khoản hay sử dụng tài khoản không chính chủ, nhờ người khác đứng tên tài khoản hoặc cố tình không ghi nội dung chuyển khoản nhằm che giấu doanh thu.
Đối với các trường hợp này để sẽ có dấu hiệu rủi ro về thuế, cơ quan thuế sẽ thực hiện đối chiếu, xác minh thông tin thông qua dữ liệu từ ngân hàng, Bộ Công an, Bộ Công Thương, các sàn thương mại điện tử và đơn vị vận chuyển theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Xem chi tiết: Thư ngỏ gửi hộ kinh doanh chỉ nhận tiền mặt không chuyển khoản để né thuế

Cơ quan thuế sẽ truy thu qua công an, ngân hàng nếu cố tình không nhận chuyển khoản không? (Hình từ Internet)
Thời hạn truy thu thuế thu nhập cá nhân là bao lâu?
Căn cứ khoản 6 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP có quy định về thời hạn truy thu thuế như sau:
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; thời hạn được coi là chưa bị xử phạt; thời hạn truy thu thuế
..
6. Thời hạn truy thu thuế
a) Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ tiền thuế truy thu (số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơn quy định, tiền chậm nộp tiền thuế) vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.
b) Thời hạn truy thu thuế tại điểm a khoản này chỉ áp dụng đối với các khoản thuế theo pháp luật về thuế và khoản thu khác do tổ chức, cá nhân tự khai, tự nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với các khoản thu từ đất đai hoặc khoản thu khác do cơ quan có thẩm quyền xác định nghĩa vụ tài chính của tổ chức, cá nhân thì cơ quan có thẩm quyền xác định thời hạn truy thu theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật có liên quan nhưng không ít hơn thời hạn truy thu theo quy định tại điểm a khoản này.
Theo đó, hiện nay, đối với người nộp thuế có số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơn quy định, tiền chậm nộp tiền thuế, thời hạn truy thu thuế thu nhập cá nhân là 10 năm trở về trước kể từ ngày phát hiện vi phạm. Hết thời hạn nêu trên, người lao động không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp lại khoản thuế chưa đóng.
Trường hợp người này không thực hiện đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế là bao nhiêu năm?
Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm b khoản 6 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 16/01/2025) quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế như sau:
- Thời hiệu xử phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế là 02 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
Ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn phải thực hiện thủ tục về thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, trừ các trường hợp sau đây:
Đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm a, b khoản 2, khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 10; khoản 1, 2, 3, 4 và điểm a khoản 5 Điều 11; khoản 1, 2, 3 và điểm a, b khoản 4, khoản 5 Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người nộp thuế thực hiện đăng ký thuế hoặc thông báo với cơ quan thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế.
Đối với hành vi quy định tại điểm c, d khoản 2, điểm b khoản 4 Điều 10; điểm b khoản 5 Điều 11; điểm c, d khoản 4 Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP là hành vi vi phạm hành chính về thuế đang được thực hiện, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.
- Thời hiệu xử phạt đối với hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
Ngày thực hiện hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn hoặc hành vi trốn thuế (trừ hành vi tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP) là ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế mà người nộp thuế thực hiện khai thiếu thuế, trốn thuế hoặc ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế.
Đối với hành vi không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP là hành vi vi phạm hành chính về thuế đang được thực hiện, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.
Đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP thì ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];