Lương tối thiểu có phải là lương thực nhận không?
Không. Lương tối thiểu không phải là số tiền thực nhận hàng tháng.
Cụ thể như sau:
Căn cứ Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 Lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường. Đây là mức sàn do Nhà nước quy định nhằm bảo vệ người lao động, đảm bảo doanh nghiệp không trả lương thấp hơn mức tối thiểu cho công việc đơn giản nhất.
Trong khi đó, lương thực nhận là số tiền người lao động thực tế nhận được sau khi đã cộng tiền lương, phụ cấp, các khoản bổ sung khác (nếu có) và trừ đi các nghĩa vụ bắt buộc như BHXH, BHYT, BHTN và thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động 2019.
Vì vậy, có thể hiểu đơn giản rằng lương tối thiểu chỉ là mức sàn pháp lý, còn lương thực nhận mới là thu nhập thực tế của người lao động, chịu ảnh hưởng bởi năng lực, vị trí công việc và chính sách trả lương của doanh nghiệp.

Lương tối thiểu có phải là lương thực nhận không?
Có phải đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động theo mức lương tối thiểu vùng không?
Căn cứ Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định:
Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
a) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có);
b) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc;
...
Giả sử không có phụ cấp và các khoản bổ sung thì dựa theo các quy định tại Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Điều 90, Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 thì mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
Thời điểm trả lương cho người lao động là khi nào?
Tại Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 quy định kỳ hạn trả lương như sau:
- Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.
- Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.
- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
- Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];