Phương trình hoá học Na2CO3 H2SO4 tạo ra sản phẩm gì?
Natri cacbonat hay còn được gọi là soda, là muối natri cacbonat có công thức hóa học Na2CO3. Na2CO3 hay Soda Ash Light là muối natri không kết tủa, tất cả các muối natri đều tan. Ở điều kiện thường, Na2CO3 khan là chất bột màu trắng, mùi nồng.
H2SO4 dạng lỏng, không màu không mùi không vị, khó bay hơi, nặng hơn nước và tan vô hạn trong nước.
H2SO4 đặc háo nước và khi hút nước sẽ tỏa nhiều nhiệt. Khí thực hành thí nghiệm, chỉ nên cho từ từ H2SO4 đặc vào nước. Tuyệt đối không làm ngược lại vì axit sẽ bắn lên gây bỏng.
Natri cacbonat Na2CO3 khi tác dụng với axit mạnh như axit sunfuric H2SO4 giúp tạo ra muối mới Na2SO4, nước và đồng thời giải phóng khí CO2.
Phương trình hoá học phản ứng hóa học giữa Na2CO3 H2SO4 như sau:
Na2CO3 + H2SO4 → Na2SO4 + CO2 + H2O
(* Phản ứng hóa học xảy ra ở nhiệt độ phòng)
* Lưu ý: Thông tin Phương trình hoá học Na2CO3 H2SO4 tạo ra sản phẩm gì? chỉ mang tính chất tham khảo!

Phương trình hoá học Na2CO3 H2SO4 tạo ra sản phẩm gì? (Hình từ Internet)
Yêu cầu cần đạt đối với năng lực nhận thức hoá học là gì?
Căn cứ theo tiểu mục 2 Mục 4 Chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT quy định định hướng chung về phương pháp giáo dục môn Hóa học như sau:
Nhận thức được các kiến thức cơ sở về cấu tạo chất; các quá trình hoá học; các dạng năng lượng và bảo toàn năng lượng; một số chất hoá học cơ bản và chuyển hoá hoá học; một số ứng dụng của hoá học trong đời sống và sản xuất. Các biểu hiện cụ thể:
- Nhận biết và nêu được tên của các đối tượng, sự kiện, khái niệm hoặc quá trình hoá học.
- Trình bày được các sự kiện, đặc điểm, vai trò của các đối tượng, khái niệm hoặc quá trình hoá học.
- Mô tả được đối tượng bằng các hình thức nói, viết, công thức, sơ đồ, biểu đồ, bảng.
- So sánh, phân loại, lựa chọn được các đối tượng, khái niệm hoặc quá trình hoá học theo các tiêu chí khác nhau.
- Phân tích được các khía cạnh của các đối tượng, khái niệm hoặc quá trình hoá học theo logic nhất định.
- Giải thích và lập luận được về mối quan hệ giữa các các đối tượng, khái niệm hoặc quá trình hoá học (cấu tạo - tính chất, nguyên nhân - kết quả,...).
- Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học.
- Thảo luận, đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề.
Định hướng chung về phương pháp giáo dục môn Hóa học như thế nào?
Căn cứ theo Mục 2 Chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT quy định định hướng chung về phương pháp giáo dục môn Hóa học như sau:
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tránh áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học để học sinh có thể tiếp tục tìm hiểu, mở rộng vốn tri thức, tiếp tục phát triển các phẩm chất, năng lực sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông.
- Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức hoá học để phát hiện và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn; khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh được trải nghiệm, sáng tạo trên cơ sở tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động học tập, tìm tòi, khám phá, vận dụng.
- Vận dụng các phương pháp giáo dục một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể. Tuỳ theo yêu cầu cần đạt, giáo viên có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một chủ đề. Các phương pháp dạy học truyền thống (thuyết trình, đàm thoại,...) được sử dụng theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
Tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học đề cao vai trò chủ thể học tập của học sinh (dạy học thực hành, dạy học dựa trên giải quyết vấn đề, dạy học dựa trên dự án, dạy học dựa trên trải nghiệm, khám phá; dạy học phân hoá,... bằng những kĩ thuật dạy học phù hợp).
- Các hình thức tổ chức dạy học được thực hiện một cách đa dạng và linh hoạt; kết hợp các hình thức học cá nhân, học nhóm, học ở lớp, học theo dự án học tập, tự học,... Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học hoá học.
Coi trọng các nguồn tư liệu ngoài sách giáo khoa và hệ thống các thiết bị dạy học được trang bị; khai thác triệt để những lợi thế của công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học trên các phương tiện kho tri thức - đa phương tiện, tăng cường sử dụng các tư liệu điện tử (như phim thí nghiệm, thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng,...).
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];