Ninh Bình sáp nhập trường mầm non tiểu học THCS THPT năm 2026 theo Tờ trình 493 thế nào?
Ngày 24/7/2026, Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh Ninh Bình có Tờ trình 493/-TTr/ĐU xin ý kiến Thường trực Tỉnh ủy về phương án tổng thể sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Tải về
>>> Theo đó, phương án sáp nhập trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT năm 2026 tại tỉnh Ninh Bình như sau:
* Đối với các trường trung học phổ thông
Giữ nguyên 92 trường trung học phổ thông thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo hiện nay; đồng thời tiếp tục rà soát nghiên cứu mở thêm trường, điểm trường, đầu tư cơ sở vật chất và bố trí đội ngũ cho các trường để mở rộng diện tích, tăng thêm số lớp/trường học, mở rộng quy mô tối đa đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trong tỉnh trong những năm học tiếp theo, góp phần thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học phổ thông (theo Nghị quyết 71-NQ/TW năm 2025; Nghị quyết 09-NQ/TU năm 2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình; tỉnh đang lập Đề án theo chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy tại Thông báo 374-TB/TU năm 2026).
* Đối với các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên
Giữ nguyên 23 trung tâm dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo hiện nay để đánh giá thực trạng các điều kiện đảm bảo mục tiêu đối với mô hình trung tâm giáo dục thường xuyên và trường trung học nghề sau khi có hướng dẫn cụ thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuyển đổi trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên sang mô hình trường trung học nghề.
* Đối với các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, liên cấp (tiểu học và trung học cơ sở)
[1] Mô hình sắp xếp các cơ sở giáo dục
Thực hiện sắp xếp các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, liên cấp (tiểu học và trung học cơ sở) thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã để hình thành các trường học một cấp học quy mô lớn có nhiều điểm trường.
Sau khi sắp xếp, sáp nhập, cơ bản vẫn giữ nguyên các cơ sở như trước khi sáp nhập, cấu trúc gồm 01 trường chính có các điểm trường. Cơ cấu nhân sự gồm: 01 hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, 01 bộ phận hành chính - nhân sự (kế toán, thủ quỹ, văn thư) dùng chung; các nhân sự hỗ trợ giáo dục theo chuyên môn đặc thù; các tổ chuyên môn được tổ chức phù hợp với điểm trường để nâng cao hiệu quả hoạt động sinh hoạt chuyên môn và tổ chức dạy học. Tùy theo tình hình thực tế về quy mô lớp, học sinh, khoảng cách địa lý đến trường chính, có thể bố trí mỗi điểm trường có 01 phó hiệu trưởng phụ trách trong tổng số định mức biên chế được giao để bảo đảm chất lượng giáo dục.
Ưu tiên sắp xếp, sáp nhập các trường cùng cấp học quy mô nhỏ, có địa bàn phục vụ liền kề hoặc vị trí địa lý gần nhau, có khả năng sử dụng chung bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên, bộ phận chuyên môn dùng chung, các nhân sự hỗ trợ giáo dục theo chuyên môn đặc thù và cơ sở vật chất, mức độ thuận lợi về giao thông, an toàn đưa đón học sinh, khả năng tổ chức bán trú, học 02 buổi/ngày, điều kiện hạ tầng số và khả năng quản trị thống nhất giữa các điểm trường; đồng thời không làm ảnh hưởng đến việc đi lại, học tập bình thường của trẻ em, học sinh.
[2] Phương án sắp xếp các cơ sở giáo dục
- Đối với 19 xã, phường có quy mô dân số, diện tích dưới tiêu chuẩn: Thực hiện sắp xếp mỗi xã, phường có 01 trường mầm non, 01 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở trên địa bàn.
- Đối với 110 xã, phường còn lại thực hiện sắp xếp cơ bản còn 01 trường mầm non, 01 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở trên địa bàn. Các xã, phường được bố trí từ 02 trường/cấp học trở lên nhưng không quá 03 trường/cấp học trong các trường hợp sau:
+ Cấp mầm non: Có trên 1.350 trẻ đến lớp hoặc trên 54 nhóm lớp được sắp xếp thành 02 trường, có trên 2.250 trẻ đến lớp hoặc trên 90 nhóm lớp được sắp xếp thành 03 trường.
+ Cấp tiểu học: Có trên 2.250 học sinh hoặc trên 66 lớp được sắp xếp thành 02 trường, có trên 3.750 học sinh hoặc trên 110 lớp được sắp xếp thành 03 trường.
+ Cấp trung học cơ sở: Có trên 1.875 học sinh hoặc trên 45 lớp được sắp xếp thành 02 trường, có trên 3.125 học sinh hoặc trên 75 lớp được sắp xếp thành 03 trường.
+ Đối với phường Hoa Lư và phường Nam Định: Được sắp xếp thành 05 trường mầm non, 05 trường tiểu học và 05 trường trung học cơ sở.
+ Không thực hiện sắp xếp đối với Trường Trẻ em khuyết tật xã Giao Hưng.
+ Thực hiện sáp nhập trường trung học cơ sở khác vào trường trung học cơ sở điển hình có quy mô dưới 1.000 học sinh bảo đảm trường trung học cơ sở điển hình có quy mô lớn, phù hợp sau sắp xếp.
- Đối với 33 trường liên cấp, thực hiện tách cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở để sáp nhập vào trường cùng cấp học trên địa bàn xã, phường.
- Trong trường hợp đặc biệt các xã, phường có dân cư thưa thớt, khoảng cách xa, địa hình phức tạp, điều kiện giao thông đi lại khó khăn, trường có quá nhiều điểm trường… các xã, phường chưa đảm bảo theo các tiêu chí trên; Ủy ban nhân dân các xã, phường báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
.jpg)
Ninh Bình sáp nhập trường mầm non tiểu học THCS THPT năm 2026 theo Tờ trình 493 thế nào? (Hình từ Internet)
Nội dung đánh giá học sinh tiểu học gồm những gì?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 5 Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, nội dung đánh giá học sinh tiểu học bao gồm:
- Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh đáp ứng yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.
- Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh thông qua những phẩm chất chủ yếu và những năng lực cốt lõi như sau:
+ Những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
+ Những năng lực cốt lõi:
++ Những năng lực chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo;
++ Những năng lực đặc thù: ngôn ngữ, tính toán, khoa học, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất.
Học sinh tiểu học được đánh giá về sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cuối năm học ở mức Tốt khi nào?
Căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 7 Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT quy định như sau:
Điều 7. Đánh giá định kỳ
1. Đánh giá định kỳ về nội dung học tập các môn học, hoạt động giáo dục
a) Vào giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối năm học, giáo viên dạy môn học căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và yêu cầu cần đạt, biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục để đánh giá học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo các mức sau:
- Hoàn thành tốt: thực hiện tốt các yêu cầu học tập và thường xuyên có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
- Hoàn thành: thực hiện được các yêu cầu học tập và có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
- Chưa hoàn thành: chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập hoặc chưa có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục.
b) Vào cuối học kỳ I và cuối năm học, đối với các môn học bắt buộc: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Lịch sử và Địa lý, Khoa học, Tin học và Công nghệ có bài kiểm tra định kỳ;
Đối với lớp 4, lớp 5, có thêm bài kiểm tra định kỳ môn Tiếng Việt, môn Toán vào giữa học kỳ I và giữa học kỳ II.
c) Đề kiểm tra định kỳ phù hợp với yêu cầu cần đạt và các biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức như sau:
- Mức 1: Nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả được nội dung đã học và áp dụng trực tiếp để giải quyết một số tình huống, vấn đề quen thuộc trong học tập;
- Mức 2: Kết nối, sắp xếp được một số nội dung đã học để giải quyết vấn đề có nội dung tương tự;
- Mức 3: Vận dụng các nội dung đã học để giải quyết một số vấn đề mới hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý trong học tập và cuộc sống.
d) Bài kiểm tra được giáo viên sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang điểm 10, không cho điểm thập phân và được trả lại cho học sinh. Điểm của bài kiểm tra định kỳ không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác. Nếu kết quả bài kiểm tra cuối học kỳ I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, giáo viên đề xuất với nhà trường có thể cho học sinh làm bài kiểm tra khác để đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh.
2. Đánh giá định kỳ về sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
Vào giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với các giáo viên dạy cùng lớp, thông qua các nhận xét, các biểu hiện trong quá trình đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển từng phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của mỗi học sinh, đánh giá theo các mức sau:
a) Tốt: Đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên.
b) Đạt: Đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện nhưng chưa thường xuyên.
c) Cần cố gắng: Chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ.
Như vậy, học sinh tiểu học được đánh giá về sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cuối năm học ở mức Tốt khi đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];