- Giáo viên trường chuyên biệt được nghỉ hè mấy tuần?
- Người dạy thực hiện việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục phải đáp ứng yêu cầu gì về chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực ngoại ngữ?
- Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm gì trong việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục?
Giáo viên trường chuyên biệt được nghỉ hè mấy tuần?
Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị định 84/2020/NĐ-CP quy định như sau:
Điều 3. Thời gian nghỉ hè của nhà giáo
1. Thời gian nghỉ hè của nhà giáo:
a) Thời gian nghỉ hè hằng năm của giáo viên cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trường chuyên biệt là 08 tuần, bao gồm cả nghỉ phép hằng năm.
b) Thời gian nghỉ hè hằng năm của giáo viên trường trung cấp và giảng viên trường cao đẳng là 06 tuần, bao gồm cả nghỉ phép hằng năm.
c) Thời gian nghỉ hè hằng năm của giảng viên cơ sở giáo dục đại học được thực hiện theo quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học;
d) Trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp để phòng chống thiên tai, dịch bệnh hoặc trường hợp cấp bách, thời gian nghỉ hè của nhà giáo cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trường chuyên biệt, trường trung cấp và trường cao đẳng do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định theo thẩm quyền.
[...]
Như vậy, giáo viên trường chuyên biệt được nghỉ hè 08 tuần, bao gồm cả nghỉ phép hằng năm.

Giáo viên trường chuyên biệt được nghỉ hè mấy tuần? (Hình từ Internet)
Người dạy thực hiện việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục phải đáp ứng yêu cầu gì về chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực ngoại ngữ?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 222/2025/NĐ-CP, người dạy thực hiện việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục phải đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực ngoại ngữ, cụ thể:
- Yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ
Đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định đối với từng cấp học, trình độ đào tạo;
- Về năng lực ngoại ngữ
+ Giáo viên dạy cấp tiểu học, cấp trung học cơ sở phải có năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương; giáo viên dạy cấp trung học phổ thông phải có năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương;
+ Người dạy tại các cơ sở giáo dục thường xuyên dạy các môn học, nội dung học tập thuộc chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở phải có năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương;
+ Người dạy tại các cơ sở giáo dục thường xuyên dạy một số môn học, hoạt động giáo dục hoặc một số nội dung của một số môn học, hoạt động giáo dục của chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông phải có năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương;
+ Người dạy tại các cơ sở giáo dục thường xuyên dạy các nội dung học tập thuộc các chương trình giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học phải có năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương;
+ Người dạy tại các cơ sở giáo dục thường xuyên dạy các nội dung học tập thuộc các chương trình giáo dục thường xuyên khác phải có năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương;
+ Người dạy các trình độ của giáo dục nghề nghiệp phải có năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương;
+ Giảng viên giảng dạy các trình độ giáo dục đại học phải có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu giảng dạy của chương trình đào tạo, tối thiểu bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương;
Lưu ý: Người được đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ toàn thời gian ở nước ngoài với ngoại ngữ là ngôn ngữ giảng dạy và có văn bằng tốt nghiệp được công nhận theo quy định hoặc có bằng tốt nghiệp cử nhân ngoại ngữ, sư phạm ngoại ngữ tại Việt Nam được miễn yêu cầu về năng lực ngoại ngữ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định 222/2025/NĐ-CP.
Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm gì trong việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục?
Căn cứ theo Điều 15 Nghị định 222/2025/NĐ-CP, trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục được quy định như sau:
- Chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong các cơ sở giáo dục,
- Chỉ đạo, hướng dẫn việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý nhà nước; kiểm tra, giám sát việc thực hiện dạy và học bằng tiếng nước ngoài tại các địa phương, cơ sở giáo dục thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý nhà nước.
- Nghiên cứu, đề xuất trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền cơ chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong các cơ sở giáo dục.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];