Điều 421 Bộ luật Hình sự quy định tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược thế nào?

14:00 | 05/10/2025
Điều 421 Bộ luật Hình sự quy định tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược thế nào? Tội phạm được phân loại dựa trên những căn cứ nào?
Nội dung chính
  1. Điều 421 Bộ luật Hình sự quy định tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược thế nào?
  2. Người phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra có được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không?
  3. Tội phạm được phân loại dựa trên những căn cứ nào?

Điều 421 Bộ luật Hình sự quy định tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược thế nào?

Căn cứ Điều 421 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 29 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025 quy định tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược như sau:

[1]. Người nào tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược hoặc chuẩn bị, tiến hành, tham gia chiến tranh xâm lược nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền khác, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

[2]. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

Trên đây là thông tin về Điều 421 Bộ luật Hình sự quy định tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược thế nào?

>>> Xem thêm:

Điều 130 Bộ luật Hình sự quy định tội bức tử thế nào?

Điều 142 Bộ luật Hình sự quy định tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thế nào?

Điều 421 Bộ luật Hình sự quy định tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược thế nào?

Điều 421 Bộ luật Hình sự quy định tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược thế nào? (Hình từ Internet)

Người phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra có được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không?

Căn cứ theo điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 quy định như sau:

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
[...]

Như vậy, người phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra thì được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tội phạm được phân loại dựa trên những căn cứ nào?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định như sau:

Điều 9. Phân loại tội phạm
1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

Như vậy, việc phân loại tội phạm căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thùy An Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự thế nào?

Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Bài viết mới nhất