Điểm mới Luật Thi hành án dân sự 2025 Luật số 106/2025/QH15 thế nào?
Ngày 05/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Thi hành án dân sự 2025 (Luật số 106/2025/QH15). Trong đó có nhiều điểm mới đáng chú ý.
Dưới đây là Tổng hợp Điểm mới Luật Thi hành án dân sự 2025 Luật số 106/2025/QH15:
[1] Hệ thống cơ quan thi hành án dân sự có 02 cấp
Tại Điều 17 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định như sau:
Điều 17. Hệ thống thi hành án dân sự
[...]
2. Cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố; cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án cấp quân khu).
[...]
Tại khoản 2 Điều 13 Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định như sau:
Điều 13. Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự
[...]
2. Cơ quan thi hành án dân sự:
a) Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh);
b) Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện);
c) Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án cấp quân khu).
Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự.
Như vậy, hệ thống cơ quan thi hành án dân sự bỏ cấp huyện, chỉ còn 2 cấp, gồm: cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố; cơ quan thi hành án cấp quân khu.
[2] Đổi tên Thừa phát lại thành Thừa hành viên và đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành Văn phòng thi hành án dân sự
Căn cứ theo khoản 2 Điều 114 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định về việc đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành Văn phòng THADS như sau:
Điều 114. Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có liên quan
[...]
2. Thay cụm từ “văn phòng thừa phát lại” bằng cụm từ “văn phòng thi hành án dân sự”, thay cụm từ “Thừa phát lại” bằng cụm từ “Thừa hành viên” tại khoản 10 Điều 104 và khoản 4 Điều 123 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15; điểm h khoản1 Điều 9, điểm b khoản 3 Điều 11, khoản 6 và khoản 8 Điều 14 của Luật Công chứng số 46/2024/QH15.
Căn cứ theo khoản 5 Điều 116 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định như sau:
Điều 116. Điều khoản chuyển tiếp
[...]
5. Thừa phát lại được bổ nhiệm trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động, không cần bổ nhiệm lại nhưng phải đổi thẻ Thừa hành viên trước ngày 01 tháng 7 năm 2027 theo quy định của Chính phủ.
Văn phòng thừa phát lại được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động nhưng phải thực hiện thủ tục đổi tên thành “văn phòng thi hành án dân sự” trước ngày 01 tháng 7 năm 2027 theo quy định của Chính phủ.
Kết quả thực hiện việc tổ chức thi hành án của văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại được thực hiện theo quy định của pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được công nhận và không phải thực hiện lại theo quy định của Luật này.
Văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tiếp tục thực hiện các công việc của văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại theo quy định của pháp luật.
[...]
Như vậy, từ ngày 01/7/2026, chính thức đổi tên Thừa phát lại thành Thừa hành viên và đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành Văn phòng thi hành án dân sự.
[3] Giảm thời hạn xác minh điều kiện thi hành án dân sự còn 07 ngày làm việc
Tại khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định như sau:
Điều 37. Xác minh điều kiện thi hành án
1. Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh, trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tiến hành xác minh ngay.
Người phải thi hành án có trách nhiệm kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
[...]
Tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi bởi khoản 17 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014 quy định như sau:
Điều 44. Xác minh điều kiện thi hành án
1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.
Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.
[...]
Như vậy, giảm thời hạn xác minh điều kiện thi hành án dân sự từ 10 ngày xuống còn 09 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án.
Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tiến hành xác minh ngay
[4] Bổ sung biện pháp cưỡng chế, kiểm tra hiện trạng tài sản
Tại khoản 2 Điều 80 Luật Thi hành án dân sự 2025 có quy định thêm về biện pháp cưỡng chế, kiểm tra hiện trạng tài sản như sau:
Điều 80. Thực hiện kê biên
[...]
2. Thực hiện kê biên đối với một số tài sản cụ thể:
[...]
đ) Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công trình kiến trúc hoặc tài sản khác mà người phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng, bảo quản tài sản vắng mặt hoặc không thực hiện theo yêu cầu của Chấp hành viên thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế mở khóa, mở gói; buộc ra khỏi nhà, công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất; các biện pháp cần thiết khác để tiến hành kê biên, cưỡng chế, kiểm tra hiện trạng. Người phải thi hành án phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại do việc cưỡng chế;
[...]
Tại Luật Thi hành án dân sự 2008 không quy định biện pháp cưỡng chế, kiểm tra hiện trạng tài sản.
[5] Bỏ thủ tục cho đương sự thỏa thuận về mức giảm giá sau khi tài sản bán đấu giá không thành
Tại khoản 3 Điều 83 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định như sau:
Điều 83. Bán tài sản kê biên
[...]
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông bảo về việc tài sản đấu giá không thành, Chấp hành viên ra quyết định giảm giá để tiếp tục đấu giá tài sản. Mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần đấu giá liền kề trước đó. Giá đã giảm theo quyết định của Chấp hành viên là giá khởi điểm của lần đấu giá tiếp theo.
Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà tài sản đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án theo giá đã giảm lần sau cùng.
Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án mà người được thi hành án không nhận tài sản thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Người phải thi hành án không được đưa tài sản đó tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành ản.
[...]
Tại khoản 1 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi bởi khoản 36 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014 quy định như sau:
Điều 104. Xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá.
[...]
Như vậy, khác với quy định tại khoản 1 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự 2008 yêu cầu Chấp hành viên phải thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản sau khi tài sản bán đấu giá không thành trong thời hạn nhất định, còn quy định mới tại khoản 3 Điều 83 Luật Thi hành án dân sự 2025 cho phép Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản ngay khi tài sản bán đấu giá không thành.
[6] Giảm thời hạn ưu tiên mua tài sản thi hành án dân sự
Tại khoản 1 Điều 83 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định như sau:
Điều 83. Bán tài sản kê biên
1. Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung hoặc trường hợp bản án, quyết định tuyên hoặc pháp luật quy định tổ chức, cá nhân được quyền ưu tiên mua tài sản, Chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung, tổ chức, cá nhân về quyền ưu tiên mua tài sản thi hành án theo giá khởi điểm.
Thời hạn thực hiện quyền ưu tiên mua là 15 ngày đối với bất động sản, 05 ngày làm việc đối với động sản kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà người được ưu tiên mua không nộp tiền mua thì tài sản được bán theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì có quyền ưu tiên mua trước thời điểm mở cuộc đấu giá 03 ngày làm việc.
[...]
Tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi bởi khoản 31 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014 quy định như sau:
Điều 74. Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án
[...]
3. Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung.
Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật này.
Như vậy, giảm thời hạn ưu tiên mua tài sản thi hành án dân sự như sau:
- Từ 03 tháng còn 15 ngày đối với bất động sản;
- Từ 01 tháng còn 05 ngày làm việc đối với động sản;
- Từ 15 ngày còn 03 ngày đối với những lần bán tài sản tiếp theo.
[...Đang tiếp tục cập nhật Điểm mới Luật Thi hành án dân sự 2025 Luật số 106 2025 QH15].
* Trên đây là nội dung Điểm mới Luật Thi hành án dân sự 2025 Luật số 106 2025 QH15 thế nào?

Điểm mới Luật Thi hành án dân sự 2025 Luật số 106/2025/QH15 thế nào? (Hình từ Internet)
Nghiệp vụ về thi hành án dân sự trong Quân đội có các loại báo cáo nào?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Thông tư 118/2024/TT-BQP, nghiệp vụ về thi hành án dân sự trong Quân đội có các loại báo cáo gồm:
- Báo cáo định kỳ gồm: Hằng tháng, quý, 6 tháng, 10 tháng và 12 tháng;
- Báo cáo thống kê thi hành án dân sự;
- Báo cáo đột xuất, báo cáo chuyên đề.
Báo cáo định kỳ nghiệp vụ về thi hành án dân sự trong Quân đội gồm các nội dung nào?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 5 Thông tư 118/2024/TT-BQP quy định như sau:
Điều 5. Nội dung báo cáo
1. Báo cáo định kỳ: Báo cáo việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự trong Quân đội, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
2. Báo cáo thống kê thi hành án dân sự: Thực hiện theo Thông tư số 05/2024/TT-BTP ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính.
3. Báo cáo đột xuất, báo cáo chuyên đề: Thực hiện theo yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước, quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự trong Quân đội; theo yêu cầu nhiệm vụ hoặc yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.
Như vậy, báo cáo định kỳ nghiệp vụ về thi hành án dân sự trong Quân đội gồm: báo cáo việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự trong Quân đội, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];