Đề xuất hạn mức giá trị chứng quyền có bảo đảm đăng ký chào bán thế nào?
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về Dự thảo TẠI ĐÂY Thông tư hướng dẫn về chứng quyền có bảo đảm.
Theo khoản 4 Điều 5 Dự thảo Thông tư đề xuất hạn mức giá trị chứng quyền đăng ký chào bán như sau:
- Tổng giá trị chứng quyền đã phát hành (không tính số lượng chứng quyền đã hủy bỏ niêm yết hoặc đã đáo hạn) và giá trị chứng quyền đăng ký chào bán của một tổ chức phát hành so với giá trị vốn khả dụng của tổ chức phát hành đó không được vượt quá các mức sau:
+ 0% đối với tổ chức phát hành có tỷ lệ vốn khả dụng từ 180% đến 250%;
+ 5% đối với tổ chức phát hành có tỷ lệ vốn khả dụng trên 250% đến 300%;
+ 10% đối với tổ chức phát hành có tỷ lệ vốn khả dụng trên 300% đến 450%;
+ 15% đối với tổ chức phát hành có tỷ lệ vốn khả dụng trên 450% đến 600%;
+ 20% đối với tổ chức phát hành có tỷ lệ vốn khả dụng trên 600%.
- Tỷ lệ vốn khả dụng để xét hạn mức quy định tại điểm a khoản này là tỷ lệ vốn khả dụng thấp nhất của 06 tháng gần nhất liền trước tháng nộp hồ sơ đăng ký chào bán chứng quyền, căn cứ trên báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính hàng tháng của tổ chức phát hành gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
- Tổng giá trị chứng quyền đã phát hành quy định tại điểm a khoản này được tính như sau:
+ Tổng giá trị chứng quyền đã phát hành = Giá chào bán (đối với chúng quyền chưa niêm yết) x Số lượng chứng quyền chưa niêm yết + Giá đóng cửa của chúng quyền tại ngày giao dịch gần nhất (đối với chúng quyền niêm yết) x Số lượng chứng quyền niêm yết.
+ Trường hợp chưa xác lập giá giao dịch chứng quyền, giá trị chứng quyền được tính theo giá chào bán.
+ Giá chào bán chứng quyền được xác định như sau:
++ Đối với chứng quyền chào bán lần đầu: Là giá chào bán được tổ chức phát hành thông báo tại Bản thông báo phát hành chứng quyền.
++ Đối với chứng quyền chào bán bổ sung: Là giá đóng cửa của chúng quyền vào ngày giao dịch liền trước ngày công bố Bản thông báo phát hành chứng quyền.
- Tổng giá trị chứng quyền đăng ký chào bán quy định tại điểm a khoản này được tính bằng giá đăng ký chào bán nhân với số lượng chứng quyền đăng ký chào bán; trong đó giá đăng ký chào bán chứng quyền được xác định như sau:
+ Đối với chứng quyền đăng ký chào bán lần đầu: Tổ chức phát hành có thể đăng ký một mức giá chào bán cụ thể hoặc đăng ký khoảng giá chào bán chứng quyền (bao gồm giá chào bán cao nhất dự kiến và giá chào bán thấp nhất dự kiến). Trường hợp tổ chức phát hành đăng ký khoảng giá chào bán chúng quyền, giá đăng ký chào bán để tính tổng giá trị chứng quyền là mức giá chào bán cao nhất dự kiến.
+ Đối với chứng quyền đăng ký chào bán bổ sung: Là giá đóng cửa của chứng quyền vào ngày giao dịch liền trước ngày nộp hồ sơ đăng ký chào bán bồ sung.
Trên đây là thông tin về Đề xuất hạn mức giá trị chứng quyền có bảo đảm đăng ký chào bán thế nào?
>>> Xem thêm:
Mẫu giấy đăng ký niêm yết chứng quyền có bảo đảm áp dụng từ 11/09/2025 là mẫu nào?
Tải mẫu 01 CW giấy đề nghị đăng ký chứng quyền có bảo đảm theo Quyết định 30?

Đề xuất hạn mức giá trị chứng quyền có bảo đảm đăng ký chào bán thế nào? (Hình từ Internet)
Chứng quyền có bảo đảm có phải là chứng khoán không?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 được bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Luật Sửa đổi Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2024 quy định như sau:
Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký;
c) Chứng khoán phái sinh;
d) Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định.
2. Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
[...]
Như vậy, chứng quyền có bảo đảm là một trong các loại của chứng khoán.
Chứng quyền có bảo đảm do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận phải được niêm yết, đăng ký giao dịch trên đâu?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 48 Luật Chứng khoán 2019 quy định về niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán như sau:
Điều 48. Niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán
1. Chứng khoán đã chào bán ra công chúng, cổ phiếu của công ty đại chúng, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ hoán đổi danh mục, chứng quyền có bảo đảm, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận phải được niêm yết, đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán.
[...]
Như vậy, chứng quyền có bảo đảm do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận phải được niêm yết, đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];