- Đề xuất cá nhân cho thuê BĐS doanh thu trên 500 triệu đồng/năm tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu, không phải quyết toán thuế đúng không?
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được miễn thuế TNCN trong trường hợp nào?
- Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản đối với cá nhân cư trú được quy định ra sao?
Đề xuất cá nhân cho thuê BĐS doanh thu trên 500 triệu đồng/năm tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu, không phải quyết toán thuế đúng không?
Căn cứ theo Công văn 18491/BTC-CST năm 2025 về việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm tra, ý kiến của Đại biều về dự án Luật Thuế TNCN (sửa đổi). Trong đó, nội dung về thuế đối với cá nhân kinh doanh có ý kiến như sau:
1. Về thuế đối với cá nhân kinh doanh
Dự thảo Luật trình Quốc hội đưa lại mức doanh thu không phải nộp thuế mà Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 sửa đổi Luật Thuế TNCN đã quy định là 200 triệu đồng /năm, đồng thời quy định cá nhân có doanh thu trên 3 tỷ đồng áp dụng thuế theo thu nhập nhân với thuế suất (tương tự như doanh nghiệp nhỏ và vừa), trong đó trường hợp cá nhân có doanh thu trên 3 tỷ đến 50 tỷ đồng áp dụng thuế suất 17%, trường hợp cá nhân có doanh thu trên 50 tỷ đồng áp dụng thuế suất 20%, giao Chính phủ điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế. Đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 200 triệu đến 3 tỷ đồng/năm thì áp dụng thuế theo tỷ lệ trên doanh thu mà dự thảo Luật kế thừa quy định của Luật hiện hành.
[...]
- Ngoài ra, riêng đối với cá nhân có hoạt động cho thuê bất động sản là hoạt động kinh doanh không thường xuyên cho thuê theo hợp đồng (trừ hoạt động kinh doanh lưu trú), để đảm bảo việc nộp thuế được đơn giản, dự thảo Luật quy định cá nhân có hoạt động cho thuế bất động sản có doanh thu năm trên 500 triệu đồng/năm thì chỉ áp dụng phương pháp tính theo tỷ lệ trên doanh thu, theo đó sẽ không phải xác định chi phí, không phải bù trừ thu nhập (nếu có hơn 1 bất động sản cho thuê), không phải quyết toán thuế năm.
Như vậy, đối với cá nhân có hoạt động cho thuê bất động sản là hoạt động kinh doanh không thường xuyên cho thuê theo hợp đồng (trừ hoạt động kinh doanh lưu trú), dự thảo Luật đề xuất quy định cá nhân cho thuê BĐS có doanh thu năm trên 500 triệu đồng/năm thì chỉ áp dụng phương pháp tính theo tỷ lệ trên doanh thu, theo đó sẽ không phải xác định chi phí, không phải bù trừ thu nhập (nếu có hơn 1 bất động sản cho thuê), không phải quyết toán thuế năm.
>>> Xem thêm: Không có chứng từ khấu trừ thuế TNCN có quyết toán được không?
>>> Xem thêm: Công văn 4094/CT-CS năm 2025 về quyết toán thuế TNCN từ tiền lương tiền công ra sao?
Vừa rồi là thông tin về câu hỏi: "Đề xuất cá nhân cho thuê BĐS doanh thu trên 500 triệu đồng/năm tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu, không phải quyết toán thuế đúng không?"

Đề xuất cá nhân cho thuê BĐS doanh thu trên 500 triệu đồng/năm tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu, không phải quyết toán thuế đúng không? (Hình từ Internet)
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được miễn thuế TNCN trong trường hợp nào?
Tại khoản 1, khoản 2 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 quy định về thu nhập được miễn thuế như sau:
Điều 4. Thu nhập được miễn thuế
1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.
3. Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất.
4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
5. Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.
[...]
Như vậy, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được miễn thuế TNCN nếu thuộc các trường hợp dưới đây:
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản đối với cá nhân cư trú được quy định ra sao?
Theo Điều 14 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 sửa đổi bởi khoản 6 Điều 2 Luật sửa đổi các Luật về thuế 2014 quy định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản đối với cá nhân cư trú như sau:
- Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định là giá chuyển nhượng từng lần.
- Chính phủ quy định nguyên tắc, phương pháp xác định giá chuyển nhượng bất động sản.
- Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];