Công văn 7371/CT-QLNT chính sách thuế GTGT đối với gỗ sơ chế thông thường có nội dung ra sao?
Ngày 7/10/2026 Cục Thuế ban hành Công văn 7371/CT-QLNT về chính sách thuế GTGT
Công văn 7371 CT QLNT: Tải về
Cục Thuế nhận được văn bản số 01/CV-CHVNG ngày 18/8/2026 của Chi hội viên nén gỗ Việt Nam về chính sách thuế GTGT. Về vấn đề này, Cục Thuế có ý kiến như sau:
Ngày 13/4/2026, Bộ Tài chính có Công văn 4582/BTC-CST Tải về và ngày 29/5/2026, Cục Thuế có Công văn 3546/CT-CS hướng dẫn các Thuế tỉnh, thành phố và Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam về chính sách thuế GTGT đối với gỗ sơ chế thông thường.
Ngày 13/8/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm) có Công văn 2362/LNKL-SDR trả lời Chi hội viên nén gỗ Việt Nam về hướng dẫn xác định sản phẩm gỗ sơ chế thông thường, theo đó “Các phụ phẩm gỗ sinh ra trong quá trình chế biến gỗ như mùn cưa, vỏ cây, đầu mẩu, bìa bắp, dăm bào và các phụ phẩm gỗ tương tự có lẫn hàm lượng chất bảo quản gỗ và keo dán gỗ được xác định là gỗ sơ chế thông thường”.
Căn cứ việc xác định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm) tại văn bản nêu trên, chính sách thuế GTGT thực hiện thống nhất theo các Công văn 4852/BTC-CST của Bộ Tài chính và Công văn 3546/CT-CS của Cục Thuế.
Trường hợp các doanh nghiệp lập hóa đơn chưa đúng quy định thì việc xử lý hóa đơn điện tử đã lập thực hiện theo quy định tại Điều 19 Nghị định 123/2020/NĐ-CP của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 70/2025/NĐ-CP) cho giai đoạn trước ngày 01/7/2026 và Điều 10 Thông tư 91/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử từ ngày 01/7/2026.
Xem chi tiết Công văn 7371 CT QLNT: Tải về
Xem thêm: Công văn 20691/CHQ-NVTHQ thuế GTGT gỗ sơ chế nhập khẩu có nội dung ra sao?

Công văn 7371 CT QLNT chính sách thuế GTGT đối với gỗ sơ chế thông thường có nội dung ra sao? (Hình từ Internet)
Gỗ sơ chế thông thường là gì?
Căn cứ Điều 3 Thông tư số 26/2025/TT- BNNMT được bổ sung bởi khoản 1 Điều 20 Thông tư 84/2025/TT-BNNMT có giải thích:
Gỗ sơ chế thông thường là gỗ sau khai thác, được xử lý qua các công đoạn chế biến ban đầu (cắt, cưa, xẻ, chẻ, bóc ván hoặc lạng ván, băm, nghiền) nhưng chưa làm thay đổi bản chất gỗ, nhằm tạo nguyên liệu hoặc bán thành phẩm phục vụ cho các công đoạn chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ, kinh doanh tiếp theo hoặc tạo thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu kho, bảo quản.
Gỗ sơ chế thông thường bao gồm: gỗ xẻ thô, gỗ đẽo hộp mà bề mặt còn thô nhám, chưa qua công đoạn bào trơn hoặc xử lý hoàn thiện; gỗ bóc hoặc gỗ lạng chưa được ép thành ván ép hoặc các loại ván công nghiệp khác; dăm gỗ (dăm mảnh, dăm nghiền) và phụ phẩm gỗ phát sinh trong quá trình chế biến như: mùn cưa, vỏ cây, đầu mẩu, bìa bắp và dăm bào.
Người nộp thuế GTGT được quy định thế nào?
Theo Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định về người nộp thuế GTGT gồm:
(1) Tổ chức, hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh).
(2) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu).
(3) Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này; tổ chức sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ dầu khí và khai thác dầu khí của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam.
(4) Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài); tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài; tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài.
(5) Tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay, kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số.
Lưu ý: Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 4 và 5 Điều này; quy định về người nộp thuế trong trường hợp nhà cung cấp nước ngoài cung cấp dịch vụ cho người mua là tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 4 Điều này.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];