Các khoản hỗ trợ điện thoại, đi lại, nhà ở cố định có phải là căn cứ đóng BHXH bắt buộc không?
Căn cứ tại điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 nêu về căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trong đó tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 158/2025/NĐ-CP hướng dẫn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, trong đó:
- Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động 2019 được thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
- Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương tại điểm a khoản này chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không bao gồm khoản phụ cấp lương phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động;
- Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương theo quy định tại điểm a khoản này, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương; không bao gồm các khoản bổ sung khác phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động.
Bên cạnh đó tại Công văn 6101/BHXH-QLT năm 2026 Tải về của BHXH TPHCM nêu như sau:
1. Các khoản hỗ trợ điện thoại, đi lại, nhà ở nếu ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) không phải là tiền lương thì không làm căn cứ tính đóng BHXH bắt buộc (kể cả trường hợp các khoản này được cố định và được chi trả ổn định hằng tháng).
Căn cứ để xác định mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc là nội dung được thỏa thuận trên hợp đồng lao động theo đúng quy định pháp luật.
2. Về điều kiện để xác định là “các chế độ và phúc lợi khác" không thuộc thẩm quyền hướng dẫn của cơ quan BHXH.
Theo quy định của pháp luật về lao động và BHXH, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc được xác định theo mức lương ghi trên hợp đồng lao động (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 31 của Luật BHXH số 41/2024/QH15 và quy định chi tiết tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định số 158/2025/NĐ-CP).
... Đối với thủ tục hồ sơ báo tăng lao động, điều chỉnh mức đóng, cơ quan BHXH không yêu cầu đơn vị cung cấp hóa đơn, tài liệu chứng minh mà đơn vị căn cứ hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng, đã thỏa thuận, giao kết với người lao động để lập hồ sơ, đơn vị tự kê khai, tự chịu trách nhiệm và lưu trữ hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng, bảng lương,... để phục vụ công tác kiểm tra, đối chiếu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Như vậy có thể thấy theo quan điểm của Bảo hiểm xã hội TP HCM thì các khoản hỗ trợ điện thoại, đi lại, nhà ở (kể cả trường hợp các khoản này được cố định và được chi trả ổn định hằng tháng) nếu không phải là tiền lương và được ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH thì không làm căn cứ tính đóng BHXH bắt buộc.
Lưu ý: Về điều kiện để xác định là “các chế độ và phúc lợi khác" không thuộc thẩm quyền hướng dẫn của cơ quan BHXH.
*Trên đây là nội dung Các khoản hỗ trợ điện thoại, đi lại, nhà ở cố định có phải là căn cứ đóng BHXH bắt buộc không?

Các khoản hỗ trợ điện thoại, hỗ trợ đi lại, nhà ở cố định có phải là căn cứ đóng BHXH bắt buộc không? (Hình từ Internet)
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định ra sao?
Căn cứ tại khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có);
- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc;
- Đối tượng quy định tại các điểm đ, e và k khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc do Chính phủ quy định;
- Đối tượng quy định tại các điểm g, h, m và n khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được lựa chọn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
Sau ít nhất 12 tháng thực hiện đóng bảo hiểm xã hội theo tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đã lựa chọn thì người lao động được lựa chọn lại tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội;
- Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội hiện nay là bao nhiêu?
Căn cứ tại Điều 32 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội như sau:
[1] Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
- 3% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ ốm đau và thai sản;
- 22% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử tuất.
[2] Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện bằng 22% thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử tuất.
*Bài viết Các khoản hỗ trợ điện thoại, hỗ trợ đi lại, nhà ở cố định có phải đóng BHXH bắt buộc không?
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];