Bị can và bị cáo có phải là một không?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 269 lượt xem
16:15 | 13/07/2023
Cho hỏi: Bị can và bị cáo có phải là một không? Câu hỏi của anh Trung (Lào Cai)
Nội dung chính
  1. Bị can và bị cáo có phải là một không?
  2. Bị can và bị cáo bị tạm giam trong trường hợp nào?
  3. Bị can và bị cáo được tại ngoại trong trường hợp nào?

Bị can và bị cáo có phải là một không?

Căn cứ tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có định nghĩa về bị can như sau:

Bị can
1. Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.
2. Bị can có quyền:
a) Được biết lý do mình bị khởi tố;
b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
...

Còn đối với bị cáo quy định tại Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng có định nghĩa riêng như sau:

Bị cáo
1. Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.
2. Bị cáo có quyền:
a) Nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
b) Tham gia phiên tòa;
c) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
...

Như vậy, từ hai định nghĩa về hai bị can và bị cáo, có thể khẳng định rằng hai đối tượng này là khác nhau.

Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự

Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.

Bị can và bị cáo có phải là một không?

Bị can và bị cáo có phải là một không? (Hình từ Internet)

Bị can và bị cáo bị tạm giam trong trường hợp nào?

Căn cứ tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về bị can và bị cáo bị tạm giam trong trường hợp, bao gồm:

- Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

- Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự 2015 quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

+ Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm.

+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can.

+ Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn.

+ Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội.

+ Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật.

+ Tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án.

+ Đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

- Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm:

+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can.

+ Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn.

+ Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội.

Bị can và bị cáo được tại ngoại trong trường hợp nào?

Theo khoản 4 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về việc tam giam cụ thể như sau:

Tạm giam
...
4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:
a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
b) Tiếp tục phạm tội;
c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

Như vậy, bị can và bị cáo được tại ngoại trong trường hợp như bao gồm:

- Phụ nữ đang mang thai.

- Phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

- Người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng.

Tuy nhiên, buộc bị canbị cáo phải chấp hành và không rơi vào một số trường hợp sau:

- Không được bỏ trốn.

- Không bị bắt theo quyết định truy nã.

- Không được tiếp tục phạm tội.

- Không được xâm phạm an ninh quốc gia.

- Không xúi giục người khác khai báo gian dối, giả mạo chứng cứ.

- Không được trả thù người làm chứng, người bị hại, người tố giác hoặc những thân nhân của họ.

Ngoài ra, bị canbị cáo còn có thể được tại ngoại theo 03 trường hợp sau:

- Bảo lãnh. (Tại Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).

- Đặt tiện để đảm bảo. (Tại Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).

- Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Tại Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).

Trân trọng!

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự thế nào?

Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Bài viết mới nhất