Đảng viên có được sinh con thứ 3 không? Đảng viên sinh con thứ 3 có bị xử lý kỷ luật và xử phạt vi phạm hành chính không?
Trước đây, tại Điều 1 Pháp lệnh 08/2008/PL-UBTVQH12 có hiệu lực từ ngày 01/02/2009 sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh dân số năm 2003 đã sửa đổi quy định về quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Theo đó, mỗi cặp vợ chồng, cá nhân có quyền quyết định thời gian và khoảng cách sinh con;
Đồng thời quy định mỗi cặp vợ chồng, cá nhân sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.
Đồng thời, tại Điều 52 Quy định 69-QĐ/TW năm 2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm quy định đảng viên vi phạm chính sách dân số có thể bị khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ) hoặc khai trừ (tuỳ từng mức độ vi phạm).
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 114/2006/NĐ-CP quy định đảng viên sinh con thứ ba trở lên thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của Đảng.
Tuy nhiên, các quy định trên hiện nay đã hết hiệu lực thi hành.
Hiện nay, tại Điều 13 Luật Dân số 2025 quy định về quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng trong việc sinh con, chăm sóc sức khỏe sinh sản như sau:
(1) Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, thu nhập và nuôi dạy con của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng.
(2) Bảo vệ sức khỏe, thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và thực hiện biện pháp khác liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Theo đó, hiện nay mỗi cá nhân, cặp vợ chồng có quyền quyết định về số con mà không còn quy định cụ thể một hoặc hai con như quy định trước đây.
Ngoài ra, tại Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm không quy định về việc kỷ luật đảng viên sinh con thứ ba trở lên.
Đồng thời, Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế không quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với đảng viên sinh con thứ ba trở lên.
Như vậy, từ các quy định trên có thể thấy, hiện nay đảng viên có quyền quyết định về số con (bao gồm sinh con thứ ba) mà không bị xử lý kỷ luật và không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, trường hợp đảng viên vi phạm một số quy định trong lĩnh vực dân số thì bị kỷ luật theo quy định tại Điều 54 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 như sau:
(1) Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau, gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:
- Cản trở việc tuyên truyền, giáo dục, vận động phổ biến thông tin, tư vấn về dân số, tiếp cận dịch vụ dân số.
- Kỳ thị, phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ dân số.
- Thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi trái quy định.
(2) Trường hợp vi phạm đã kỷ luật theo Mục (1) mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):
- Tuyên truyền, phổ biến hoặc đưa thông tin có nội dung sai sự thật, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân số.
- Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. Cưỡng bức, ép buộc việc sinh con hoặc không sinh con.
(3) Trường hợp vi phạm Mục (1), (2) mà gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ: Nhân bản vô tính người.

Đảng viên có được sinh con thứ 3 không? Đảng viên sinh con thứ 3 có bị xử lý kỷ luật và xử phạt vi phạm hành chính không? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm là gì?
Theo Điều 2 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 quy định nguyên tắc xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên như sau:
(1) Tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.
Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn.
(2) Thi hành kỷ luật phải đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và thẩm quyền, theo quy định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh.
(3) Khi xem xét kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra.
(4) Một hành vi vi phạm chỉ bị kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật. Khi cùng một thời điểm xem xét kỷ luật nếu có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất; không tách riêng từng hành vi vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau và kỷ luật nhiều lần.
(5) Sau 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng có hiệu lực (trừ quyết định kỷ luật khai trừ đối với đảng viên hoặc quyết định kỷ luật giải tán đối với tổ chức đảng), nếu tổ chức đảng, đảng viên không khiếu nại, không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực.
(6) Tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan, sai, thì tổ chức đảng ra quyết định kỷ luật phải huỷ bỏ hoặc thay đổi quyết định kỷ luật cho phù hợp; tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan; nếu tổ chức đảng không thực hiện thì tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đã ra quyết định kỷ luật oan, sai, nếu có vi phạm đến mức phải kỷ luật thì xử lý theo quy định.
(7) Tổ chức đảng bị kỷ luật, tổ chức đảng nơi đảng viên bị kỷ luật sinh hoạt đã chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc kết thúc hoạt động thì việc công bố quyết định kỷ luật thực hiện ở tổ chức đảng đã tiếp nhận việc chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đó.
(8) Kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để xem xét xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng.
Đảng viên trong tổ chức đảng bị kỷ luật phải chịu trách nhiệm về nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật của tổ chức đảng đó và phải ghi vào lý lịch đảng viên; đảng viên không bị kỷ luật về cá nhân vẫn được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, thực hiện công tác cán bộ theo quy định. Đảng viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến vi phạm của tổ chức đảng cũng phải ghi rõ vào lý lịch đảng viên.
(9) Đảng viên vi phạm pháp luật phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đảng viên vi phạm bị truy nã, tạm giam hoặc bị toà án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định khai trừ, đối với đảng viên dự bị thì quyết định xoá tên trong danh sách đảng viên; nếu bị xử phạt bằng hình phạt thấp hơn cải tạo không giam giữ hoặc được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tuỳ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để thi hành kỷ luật đảng tương xứng. Nếu làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải xem xét trách nhiệm và bồi thường theo quy định.
(10) Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại (trừ trường hợp có quy định khác). Đảng viên bị kỷ luật về đảng thì chậm nhất 5 ngày kể từ ngày ký quyết định, cấp uỷ quản lý đảng viên đó phải kịp thời chỉ đạo hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về Đảng, phải thực hiện quy trình xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể, xử lý pháp luật (nếu có) theo quy định (trừ trường hợp quy định tại Khoản 14 Điều này).
Khi các cơ quan, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị-xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, cơ quan bảo vệ pháp luật thi hành kỷ luật, khởi tố bị can đối với cán bộ, công chức, viên chức, hội viên, đoàn viên, người lao động là đảng viên thì chậm nhất 5 ngày kể từ ngày ký quyết định phải chủ động thông báo ngay bằng văn bản cho tổ chức đảng quản lý đảng viên đó biết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, tổ chức đảng quản lý đảng viên phải quyết định thi hành kỷ luật về Đảng theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền thi hành kỷ luật.
(11) Trong cùng một vụ việc có nhiều đảng viên vi phạm thì mỗi đảng viên phải bị kỷ luật về hành vi vi phạm của mình.
(12) Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có vi phạm ở tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cũ đến mức phải kỷ luật thì xem xét kỷ luật theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
(13) Không bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, điều động, luân chuyển, biệt phái, phong, thăng quân hàm, tặng khen thưởng, công nhận các danh hiệu của Đảng, Nhà nước đối với cán bộ, đảng viên đang bị tổ chức đảng xem xét xử lý kỷ luật, chưa hết thời hạn kỷ luật, trong thời gian giải quyết tố cáo (đã có quyết định thành lập đoàn giải quyết tố cáo), khiếu nại kỷ luật, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, bị kiến nghị xử lý vi phạm theo kết luận thanh tra, kiểm toán, bị điều tra.
(14) Trường hợp chưa xem xét, xử lý kỷ luật, không kỷ luật hoặc miễn kỷ luật:
- Đảng viên là nữ giới đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc đảng viên là nam giới (trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật, trừ trường hợp đảng viên đó có văn bản đề nghị xem xét, xử lý kỷ luật.
- Đảng viên đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức hoặc bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện, có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền (bệnh viện đa khoa khu vực và tương đương trở lên) thì chưa xem xét xử lý kỷ luật; khi sức khoẻ ổn định (được ra viện) mới xem xét, xử lý kỷ luật.
- Đảng viên vi phạm đã qua đời thì tổ chức đảng xem xét, kết luận nhưng không quyết định kỷ luật, trừ trường hợp có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Đảng viên bị tuyên bố mất tích nếu phát hiện vi phạm vẫn phải xem xét, kết luận nhưng chưa xử lý kỷ luật, khi phát hiện đảng viên đó còn sống thì thi hành kỷ luật theo quy định.
- Đảng viên thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo được cấp có thẩm quyền cho phép và thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung, nhưng xảy ra thiệt hại thì cơ quan có thẩm quyền xem xét miễn kỷ luật.
- Vi phạm do chấp hành chủ trương, quyết định, mệnh lệnh sai trái của tổ chức, cấp trên hoặc do bị ép buộc nhưng đã chủ động, kịp thời báo cáo bằng văn bản với tổ chức, cơ quan có thẩm quyền biết ý kiến, đề xuất của mình trước khi thực hiện thì miễn kỷ luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];