Công văn 6936 CT QLTT 2026 về Giải quyết hoàn thuế GTGT chi tiết thế nào?
TẢI VỀ Công văn 6936/CT-QLTT năm 2026
Tại Công văn 6936/CT-QLTT năm 2026 về việc thực hiện thống nhất một số nội dung trong giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng, Cục Thuế đã đề nghị Thuế các tỉnh, thành phố quán triệt và tổ chức thực hiện thống nhất các nội dung trong giải quyết hoàn thuế GTGT, bao gồm:
(1) Nguyên tắc sử dụng thông tin rủi ro và phân loại hồ sơ hoàn thuế
(2) Xử lý hồ sơ hoàn thuế theo kết quả phân loại
(3) Sử dụng thông tin rủi ro của người bán và các chủ thể trong chuỗi cung ứng
(4) Người bán kê khai, nộp thuế GTGT và sử dụng thông tin này trong quản lý rủi ro
(5) Rà soát, xác minh thông tin theo chuỗi cung ứng
Nội dung chi tiết như sau:
(1) Nguyên tắc sử dụng thông tin rủi ro và phân loại hồ sơ hoàn thuế
Trong quá trình giải quyết hồ sơ hoàn thuế, cần phân biệt rõ:
(i) thông tin, cảnh báo rủi ro;
(ii) kết quả Hệ thống thông tin quản lý thuế xác định hồ sơ hoặc một phần số tiền đề nghị hoàn có rủi ro trong quản lý thuế; và
(iii) kết quả kiểm tra, xác minh xác định người nộp thuế không đáp ứng điều kiện hoàn thuế hoặc có hành vi vi phạm.
Thông tin, cảnh báo rủi ro liên quan đến người bán, hóa đơn hoặc chủ thể trong chuỗi cung ứng là dữ liệu đầu vào phục vụ đánh giá, phân loại rủi ro, lựa chọn nội dung cần rà soát, xác minh; không đồng nghĩa với giao dịch không phát sinh trên thực tế, hóa đơn không hợp pháp hoặc số thuế GTGT đầu vào tương ứng không đủ điều kiện hoàn.
Công tác phân loại hồ sơ hoàn thuế; xác định hồ sơ, số tiền cần yêu cầu giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu; xác định một phần số tiền đề nghị hoàn có rủi ro được thực hiện trên Hệ thống thông tin quản lý thuế theo quy định tại Điều 48, Điều 49 Thông tư 89/2026/TT-BTC và tiêu chí quản lý rủi ro.
Chỉ khi qua kiểm tra, xác minh hoặc theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền có đủ căn cứ xác định hóa đơn không hợp pháp, giao dịch không phát sinh trên thực tế, người nộp thuế không đáp ứng điều kiện hoàn thuế hoặc có hành vi vi phạm thì cơ quan thuế thực hiện không hoàn, thu hồi số tiền đã hoàn và xử lý theo quy định pháp luật.
(2) Xử lý hồ sơ hoàn thuế theo kết quả phân loại
(i) Đối với hồ sơ thuộc trường hợp hoàn thuế trước:
- Trường hợp Hệ thống thông tin quản lý thuế xác định một phần số tiền đề nghị hoàn trong hồ sơ có rủi ro trong quản lý thuế, cơ quan thuế ban hành thông báo phần số tiền đó thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế theo quy định tại Thông tư 89/2026/TT-BTC.
- Phần số tiền còn lại tiếp tục được xử lý theo trình tự hoàn thuế trước và được hoàn khi đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.
Trường hợp Hệ thống xác định một phần số tiền đề nghị hoàn có rủi ro thì chỉ xem xét, xử lý đối với phần số tiền có rủi ro, không chuyển toàn bộ số tiền đề nghị hoàn sang diện kiểm tra trước hoàn, trừ trường hợp hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan thuế không chờ kết quả kiểm tra, xác minh phần số tiền có rủi ro mới giải quyết phần số tiền còn lại nếu phần số tiền này đã đủ điều kiện giải quyết theo trình tự hoàn thuế trước.
- Đối với phần số tiền thuộc diện kiểm tra trước hoàn, nội dung yêu cầu giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu, kiểm tra, xác minh phải gắn với nội dung, giao dịch, hóa đơn và phần số tiền cần làm rõ; không mở rộng phạm vi chỉ vì phát sinh cảnh báo rủi ro tại một chủ thể trong chuỗi cung ứng, trừ trường hợp trong quá trình kiểm tra, xác minh phát hiện thêm dấu hiệu rủi ro hoặc thuộc trường hợp phải kiểm tra theo quy định.
(ii) Đối với hồ sơ thuộc trường hợp kiểm tra trước hoàn thuế:
Cơ quan thuế thực hiện trình tự kiểm tra trước hoàn đối với hồ sơ theo quy định tại Điều 30 Nghị định 252/2026/NĐ-CP và Điều 48, Điều 49 Thông tư 89/2026/TT-BTC; trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh xác định rõ số tiền đủ điều kiện được hoàn, số tiền không được hoàn và số tiền chưa đủ điều kiện được hoàn theo quy định.
(3) Sử dụng thông tin rủi ro của người bán và các chủ thể trong chuỗi cung ứng
Trong quản lý rủi ro theo số tiền, người bán trực tiếp xuất hóa đơn cho người nộp thuế đề nghị hoàn được xác định là F1. Thông tin rủi ro của F2, F3 và các cấp tiếp theo trong chuỗi cung ứng là dữ liệu đầu vào để Hệ thống thông tin quản lý thuế đánh giá, tổng hợp và quy đổi mức độ rủi ro về F1 theo tiêu chí, công thức quản lý rủi ro.
Trường hợp F2, F3 hoặc các cấp tiếp theo phát sinh thông tin, cảnh báo rủi ro, công chức không căn cứ riêng vào cảnh báo đó để xác định số thuế GTGT đầu vào tương ứng của người nộp thuế đề nghị hoàn thuộc diện kiểm tra trước hoàn hoặc không được hoàn. Phần số tiền đề nghị hoàn có rủi ro được xác định theo kết quả phân loại trên Hệ thống thông tin quản lý thuế và quy định của pháp luật.
Trường hợp F1 chưa phát sinh cảnh báo rủi ro nhưng F2, F3 hoặc chủ thể ở cấp tiếp theo trong chuỗi cung ứng có cảnh báo rủi ro, cơ quan thuế không căn cứ riêng vào cảnh báo tại F2, F3 để chuyển số thuế GTGT đầu vào tương ứng sang kiểm tra trước hoàn hoặc kết luận không đủ điều kiện hoàn. Thông tin này được sử dụng làm dữ liệu đầu vào để đánh giá, quy đổi rủi ro về F1 và lựa chọn nội dung cần rà soát, xác minh theo quy định.
Người bán hoặc chủ thể trong chuỗi cung ứng được xác định có rủi ro về hóa đơn, ngừng hoạt động và đang làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, giải thể hoặc chấm dứt hoạt động là thông tin phục vụ quản lý rủi ro; không phải là căn cứ để kết luận giao dịch không phát sinh trên thực tế, hóa đơn không hợp pháp, hồ sơ không đủ điều kiện hoàn thuế hoặc thu hồi số thuế đã hoàn.
(4) Người bán kê khai, nộp thuế GTGT và sử dụng thông tin này trong quản lý rủi ro
Khoản 3 Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2025 đã bãi bỏ điểm c khoản 9 Điều 15 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 về điều kiện “người bán đã kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định đối với hóa đơn đã xuất cho cơ sở kinh doanh đề nghị hoàn thuế”, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Vì vậy, đối với kỳ hoàn thuộc phạm vi áp dụng của quy định hiện hành, người bán đã kê khai, nộp thuế GTGT không còn là điều kiện để xác định quyền hoàn thuế GTGT của bên mua. Đối với kỳ hoàn trước ngày 01/01/2026, áp dụng quy định pháp luật có hiệu lực tại kỳ hoàn tương ứng.
Bãi bỏ điều kiện nêu trên không có nghĩa là thông tin người bán chưa kê khai hoặc chưa nộp thuế không được sử dụng trong quản lý rủi ro. Cơ quan thuế sử dụng thông tin này cùng với các thông tin, dữ liệu khác để đánh giá rủi ro, xác định nội dung cần rà soát, xác minh theo quy định; không căn cứ riêng vào thông tin này để kết luận bên mua không đủ điều kiện hoàn thuế.
(5) Rà soát, xác minh thông tin theo chuỗi cung ứng
Đối với công tác rà soát, xác minh hóa đơn theo chuỗi cung ứng đang thực hiện theo Công văn 4728/CT-QLTT ngày 28/10/2025 và các hướng dẫn nghiệp vụ liên quan, Thuế tỉnh, thành phố tiếp tục thực hiện đối với các nội dung còn phù hợp, đồng thời bảo đảm các nguyên tắc tại Công văn này.
Trường hợp cách thức xác định, sử dụng thông tin rủi ro tại F2, F3 hoặc các cấp tiếp theo theo hướng dẫn trước đây khác với nguyên tắc tại Công văn này thì thực hiện theo Công văn này.
Thông tin cảnh báo rủi ro tại các cấp trong chuỗi được sử dụng để thu thập thông tin, đánh giá rủi ro, lựa chọn phạm vi rà soát, xác minh; không sử dụng riêng lẻ làm căn cứ tạm dừng giải quyết hoàn, chuyển toàn bộ số tiền sang kiểm tra trước hoàn, không hoàn hoặc thu hồi số tiền đã hoàn.
Yêu cầu giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu, kiểm tra, xác minh phải đúng nội dung và phạm vi rủi ro cần làm rõ. Trường hợp trong quá trình xử lý phát hiện thêm dấu hiệu rủi ro thì cơ quan thuế tiếp tục mở rộng nội dung kiểm tra, xác minh theo quy định.
>>> Xem chi tiết tại Công văn 6936/CT-QLTT năm 2026 TẢI VỀ

Công văn 6936 CT QLTT 2026 thống nhất nội dung giải quyết hoàn thuế GTGT như thế nào? (Hình từ Internet)
Trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT không được thực hiện những hành vi nào?
Trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT không được thực hiện những hành vi sau đây:
(1) Mua, cho, bán, tổ chức quảng cáo, môi giới mua, bán hóa đơn.
(2) Tạo lập giao dịch mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không có thật hoặc giao dịch không đúng quy định của pháp luật.
(3) Lập hóa đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh, trừ trường hợp lập hóa đơn giao cho khách hàng để thực hiện các hợp đồng đã ký trước ngày thông báo tạm ngừng kinh doanh.
(4) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ theo quy định của Chính phủ.
(5) Không chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử về cơ quan thuế theo quy định.
(6) Làm sai lệch, sử dụng sai mục đích, truy cập trái phép, phá hủy hệ thống thông tin về hóa đơn, chứng từ.
(7) Đưa, nhận, môi giới hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác liên quan đến hóa đơn, chứng từ để được khấu trừ thuế, hoàn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, trốn thuế giá trị gia tăng.
(8) Thông đồng, bao che; móc nối giữa công chức quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế và cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu, giữa các cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu trong việc sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ để được khấu trừ thuế, hoàn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, trốn thuế giá trị gia tăng.
*Các hành vi nêu trên là các hành vi bị nghiêm cấm trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT theo quy định tại Điều 13 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];