Công văn 1739/BHXH-CSXH về giải quyết hưởng chế độ thai sản sinh con thứ hai theo Luật Dân số 2025?

Nguyễn Ngọc Mỹ Duyên 1,253 lượt xem
08:45 | 30/06/2026
Công văn 1739/BHXH-CSXH về giải quyết hưởng chế độ thai sản sinh con thứ hai theo Luật Dân số 2025? Mức trợ cấp thai sản hiện nay là bao nhiêu?
Nội dung chính
  1. Công văn 1739/BHXH-CSXH về giải quyết hưởng chế độ thai sản sinh con thứ hai theo Luật Dân số 2025?
  2. Mức trợ cấp thai sản hiện nay là bao nhiêu?
  3. Nhận trợ cấp từ các chế độ bảo hiểm xã hội có cần đóng thuế thu nhập cá nhân không?

Công văn 1739/BHXH-CSXH về giải quyết hưởng chế độ thai sản sinh con thứ hai theo Luật Dân số 2025?

Ngày 01/06/2026, BHXH Việt Nam đã có Công văn 1739/BHXH-CSXH năm 2026 về việc hướng dẫn thực hiện giải quyết hưởng chế độ thai sản sinh con thứ hai theo quy định của Luật Dân số 2025.

>>Tải về Công văn 1739/BHXH-CSXH năm 2026

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dân số 2025 quy định trách nhiệm của Bộ Tài chính: “Bổ sung trường hợp sinh con thứ hai quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định này vào quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp”.

BHXH Việt Nam bổ sung nội dung kê khai đối với trường hợp người lao động đề nghị giải quyết chế độ thai sản khi sinh con thứ hai tại mục II Văn bản đề nghị (Mẫu số 14-HSB ban hành kèm theo Quyết định 313/QĐ-BHXH năm 2026 của BHXH Việt Nam).

Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố sử dụng mẫu số 14-HSB (sau khi bổ sung, điều chỉnh) đính kèm văn bản này để tổ chức thực hiện.

Công văn 1739/BHXH-CSXH về giải quyết hưởng chế độ thai sản sinh con thứ hai theo Luật Dân số 2025?

Công văn 1739/BHXH-CSXH về giải quyết hưởng chế độ thai sản sinh con thứ hai theo Luật Dân số 2025? (Hình từ Internet)

Mức trợ cấp thai sản hiện nay là bao nhiêu?

Căn cứ Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định mức trợ cấp thai sản hiện nay như sau:

(1) Trợ cấp thai sản một tháng của người lao động quy định tại các Điều 51, 52, 53, 54, 55, 56 và 57 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa đủ 06 tháng thì trợ cấp thai sản của người lao động quy định tại Điều 51, Điều 52, các khoản 2, 5, 6 và 7 Điều 53, các khoản 1, 2 và 4 Điều 54, khoản 2 Điều 55 và Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 là mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của các tháng đã đóng.

(2) Trợ cấp thai sản một ngày đối với trường hợp quy định tại Điều 51 và khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được tính bằng trợ cấp thai sản một tháng chia cho 24 ngày.

(3) Trợ cấp thai sản khi sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi được tính theo mức trợ cấp thai sản quy định tại Mục (1),

Trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định tại Điều 52 và Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì mức trợ cấp mỗi ngày được tính bằng mức trợ cấp thai sản một tháng chia cho 30 ngày.

(4) Trợ cấp thai sản của lao động nữ mang thai hộ, lao động nữ nhờ mang thai hộ được thực hiện theo quy định tại Mục (1), (2), (3) và được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ, lao động nữ nhờ mang thai hộ.

Nhận trợ cấp từ các chế độ bảo hiểm xã hội có cần đóng thuế thu nhập cá nhân không?

Căn cứ khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về thu nhập chịu thuế như sau:

Thu nhập chịu thuế
...
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
c) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
...

Theo quy định trên, các khoản nhận trợ cấp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 sẽ không phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Do đó, không phải đóng thuế thu nhập cá nhân đối với những khoản trợ cấp này.

Lưu ý: Từ ngày 01/07/2026, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 chính thức có hiệu lực thi hành, trừ các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú sẽ áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026 (tức ngày 01/01/2026).

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Công văn Thuế Xem thêm

Bài viết mới nhất