Việc phân chia, xác định 04 nhóm mỏ trong thăm dò khoáng sản căn cứ vào những điều kiện nào?
Theo khoản 3 Điều 10 Thông tư 40/2025/TT-BNNMT quy định việc phân chia, xác định 04 nhóm mỏ trong thăm dò khoáng sản căn cứ vào những điều kiện dưới đây:
- Nhóm mỏ đơn giản (I): gồm những mỏ hoặc một phần mỏ lớn, có cấu trúc địa chất đơn giản với các thân quặng dạng giả tầng, dạng vỉa nằm ngang hoặc dốc thoải; các thân quặng có hình dạng đơn giản, hệ số chứa quặng từ 0,8 đến 1,0; chiều dày ổn định, hệ số biến đổi chiều dày theo công trình không lớn hơn 40%; hàm lượng các thành phần có ích chính phân bố đồng đều, hệ số biến đổi hàm lượng theo mẫu đơn không lớn hơn 40%;
- Nhóm mỏ tương đối phức tạp (II): gồm những mỏ hoặc một phần mỏ từ lớn đến trung bình, có cấu trúc địa chất tương đối phức tạp, với các thân quặng có hình dạng tương đối đơn giản đến phức tạp; thân quặng dạng vỉa, thấu kính,…; chiều dày thân quặng tương đối ổn định đến không ổn định, hệ số biến đổi chiều dày theo công trình từ trên 40% đến 80%; hàm lượng các thành phần có ích chính phân bố từ tương đối đồng đều đến không đồng đều, hệ số biến đổi hàm lượng theo mẫu đơn từ trên 40% đến 100% và hệ số chứa quặng từ 0,6 đến 0,8;
- Nhóm mỏ phức tạp (III): gồm những mỏ hoặc một phần mỏ từ nhỏ đến trung bình, có cấu trúc địa chất phức tạp với các thân quặng dạng vỉa, thấu kính, chuỗi thấu kính, dạng ổ, dạng cột, dạng ống,…; hình dạng các thân quặng rất phức tạp, chiều dày không ổn định, hệ số biến đổi chiều dày theo công trình từ trên 80% đến 100%; hàm lượng các thành phần có ích chính phân bố không đồng đều, hệ số biến đổi hàm lượng theo mẫu đơn từ trên 100% đến 150%; hệ số chứa quặng từ 0,4 đến 0,6;
- Nhóm mỏ rất phức tạp (IV): gồm những mỏ hoặc một phần mỏ nhỏ, có cấu trúc địa chất rất phức tạp với các thân quặng kích thước nhỏ đến rất nhỏ, dạng mạch, mạng mạch, thấu kính, chuỗi thấu kính, dạng cột, dạng ổ…; hình dạng thân quặng rất phức tạp, chiều dày rất không ổn định, hệ số biến đổi chiều dày theo công trình trên 100%; hàm lượng các thành phần có ích chính biến đổi rất không đồng đều, hệ số biến đổi hàm lượng theo mẫu đơn trên 150%; hệ số chứa quặng dưới 0,4.

Việc phân chia, xác định 04 nhóm mỏ trong thăm dò khoáng sản căn cứ vào những điều kiện nào? (Hình từ Internet)
Trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn tính theo đơn vị gì?
Căn cứ tại Điều 4 Thông tư 40/2025/TT-BNNMT quy định về yêu cầu về tính trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn như sau:
Điều 4. Yêu cầu về tính trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn
1. Trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn được tính riêng cho từng loại khoáng sản, theo sự có mặt của khoáng sản trong lòng đất, không kể đến tổn thất do khai thác, chế biến. Đối với mỏ khoáng sản tổng hợp, trữ lượng và tài nguyên khoáng sản được tính bao gồm khoáng sản chính và khoáng sản đi kèm.
2. Trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn tính theo đơn vị khối lượng hoặc thể tích tuỳ theo mục đích sử dụng.
3. Chất lượng khoáng sản rắn xác định ở trạng thái tự nhiên trong lòng đất, không tính đến nghèo hóa do quá trình khai thác; theo mục đích sử dụng và công nghệ chế biến có tính đến khả năng thu hồi và sử dụng tối đa các thành phần có ích đi kèm.
Như vậy, trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn tính theo đơn vị khối lượng hoặc thể tích tuỳ theo mục đích sử dụng.
Yêu cầu về mức độ đánh giá của các cấp trữ lượng và cấp tài nguyên khoáng sản rắn 111 là gì?
Theo Điều 7 Thông tư 40/2025/TT-BNNMT quy định yêu về mức độ đánh giá của các cấp trữ lượng và cấp tài nguyên khoáng sản rắn 111 như sau:
Trữ lượng cấp 111 được khoanh định trong phạm vi khống chế bởi các công trình thăm dò và các công trình khai thác. Trữ lượng cấp 111 bảo đảm các yêu cầu sau:
- Mức độ đánh giá địa chất: khối trữ lượng được thăm dò bảo đảm chi tiết về hình dạng, kích thước, thế nằm và cấu trúc địa chất thân khoáng; phân chia và khoanh định được các phần khoáng sản có giá trị kinh tế, các lớp, thấu kính đá kẹp và phần không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng bên trong thân khoáng; xác định rõ chất lượng và tính chất công nghệ của khoáng sản; các điều kiện địa chất thuỷ văn, địa chất công trình và các điều kiện khai thác mỏ đã được nghiên cứu chi tiết, bảo đảm đủ cơ sở để thiết kế khai thác mỏ. Độ tin cậy địa chất của trữ lượng bảo đảm tối thiểu 80%;
- Mức độ đánh giá khả thi về kỹ thuật công nghệ: dự án đầu tư khai thác khoáng sản chứng minh việc khai thác, tuyển khoáng, chế biến khoáng sản theo giải pháp kỹ thuật - công nghệ lựa chọn là hợp lý, bảo đảm sử dụng tổng hợp, triệt để, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường và hợp pháp;
- Hiệu quả kinh tế: báo cáo kết quả khai thác khoáng sản hoặc dự án đầu tư khai thác khoáng sản khẳng định việc đầu tư khai thác và chế biến khoáng sản của mỏ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế tại thời điểm đánh giá.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];