Trường hợp phạm tội theo khoản 2 Điều 306 BLHS (tội cản trở thi hành án)

09:56 | 25/03/2023
Trường hợp phạm tội theo khoản 2 Điều 306 Bộ luật hình sự là trường hợp nào?

Khoản 2 Điều 306 quy định ba tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là: có tổ chức, phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
 
    a) Có tổ chức
 
    Cản trở việc thi hành án có tổ chức và trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Nhưng đối với người thực hành nhất thiết phải là người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc thi hành án, còn đối với những người đồng phạm khác có thể không phải là người có chức vụ, quyền hạn.
 
    Cản trở việc thi hành án có tổ chức sẽ làm cho việc thi hành án gặp khó khăn hơn và khả năng gây ra hậu quả cũng nghiêm trọng hơn.
 
    b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
 
    Cũng như đối với trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi cản trở việc thi hành án gây ra, cho đến nay chưa có giải thích hoặc hướng dẫn trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi cản trở việc thi hành án gây ra. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử loại tội phạm này, tham khảo hướng dẫn tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đã được hướng dẫn đối với tội phạm khác, chúng ta có thể coi hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi cản trở thi hành án gây ra nếu:
 
    - Gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ trên 150 triệu đồng đến 500 triệu đồng là hậu quả rất nghiêm trọng; gây thiệt hại trên 500 triệu đồng là haụa quả đặc biệt nghiêm trọng.
 
    - Bị vào trại giam thi hành hình phạt tù nên người bị kết án tiếp tục bị phạm tội mới nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do cố ý là hậu quả rất nghiêm trọng: nếu phạm tội mới là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
 
    - Ngoài ra có thể căn cứ vào tình hình chính trị, xã hội ở địa phương, sự ảnh hưởng của việc không thi hành bản án, quyết định của Tòa án để xác định hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
 
    Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 306, người phạm tội bị phạt tù từ hai năm đến năm năm, là tội phạm nghiêm trọng.
 
    Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trong hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, không thuộc trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng ở mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng điều 47 BLHS phạt dưới 2 năm tù. Nếu thuộc cả hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, thuộc trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 BLHS, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến 5 năm tù.
 

Logo Thư viện Pháp luật
Thư Viện Pháp Luật Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự thế nào?

Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Bài viết mới nhất