Trường hợp nào yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài bị từ chối thực hiện?
Căn cứ theo Điều 30 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 (có hiệu lực thi hành từ 01/7/2026) quy định về từ chối, hoãn thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài như sau:
Điều 30. Từ chối, hoãn thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài bị từ chối thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Vi phạm nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
c) Gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia, trật tự công cộng của Việt Nam;
d) Liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự một người về hành vi phạm tội mà người đó đã bị kết án, được tuyên không có tội hoặc được đại xá, đặc xá tại Việt Nam;
đ) Liên quan đến hành vi phạm tội đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam;
e) Có căn cứ cho rằng yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự một người vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nguồn gốc dân tộc, quan điểm chính trị của người đó hoặc vì những lý do này mà người đó có thể bị đối xử không công bằng trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự.
[...]
Như vậy, yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài bị từ chối thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
- Vi phạm nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025
- Gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia, trật tự công cộng của Việt Nam;
- Liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự một người về hành vi phạm tội mà người đó đã bị kết án, được tuyên không có tội hoặc được đại xá, đặc xá tại Việt Nam;
- Liên quan đến hành vi phạm tội đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam;
- Có căn cứ cho rằng yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự một người vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nguồn gốc dân tộc, quan điểm chính trị của người đó hoặc vì những lý do này mà người đó có thể bị đối xử không công bằng trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp nào yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài bị từ chối thực hiện? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự là gì?
Theo quy định tại Điều 5 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự là:
(1) Tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
(2) Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì việc tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài được quy định như thế nào?
Theo quy định tại Điều 31 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 Thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
(1) Cơ quan thực hiện yêu cầu ở Việt Nam bao gồm:
- Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự,
- Cơ quan điều tra;
- Viện kiểm sát;
- Tòa án;
- Cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự;
- Cơ quan khác theo quy định của pháp luật.
(2) Sau khi thực hiện yêu cầu, cơ quan thực hiện yêu cầu quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 31 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 gửi kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi kết quả cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài là thành viên hoặc thông qua kênh ngoại giao.
(3) Trường hợp không thực hiện được yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự hoặc cần bổ sung thông tin, tài liệu, cơ quan thực hiện yêu cầu thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nêu rõ lý do để Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
(4) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết khoản 1 Điều 31 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025.
Lưu ý: Các quy định trên có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/07/2026.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];