Trường hợp nào bị can được đi khỏi nơi cư trú khi đã có lệnh cấm?

— 94 lượt xem
01:55 | 31/03/2025
Trường hợp nào bị can được đi khỏi nơi cư trú khi đã có lệnh cấm? Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú là bao lâu? Bị can có những quyền gì?
Nội dung chính
  1. Trường hợp nào bị can được đi khỏi nơi cư trú khi đã có lệnh cấm?
  2. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú là bao lâu?
  3. Bị can có những quyền gì?

Trường hợp nào bị can được đi khỏi nơi cư trú khi đã có lệnh cấm?

Theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có nêu cụ thể: Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo có địa chỉ cư trú và lý lịch rõ ràng, nhằm đảm bảo sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập từ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.

Đồng thời, căn cứ khoản 5 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú như sau:

Điều 123. Cấm đi khỏi nơi cư trú
[...]
5. Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ.
Trường hợp bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
[...]

Như vậy bị can vẫn có thể được đi khỏi nơi cư trú khi đã có lệnh cấm trong trường hợp bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú.

Tuy nhiên phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Trường hợp nào bị can được đi khỏi nơi cư trú khi đã có lệnh cấm? (Hình từ Internet)

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú là bao lâu?

Theo khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú như sau:

Điều 123. Cấm đi khỏi nơi cư trú
[...]
4. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
[...]

Theo đó, có thể thấy thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại mỗi giai đoạn được quy định như sau:

- Giai đoạn điều tra: Do Cơ quan điều tra quyết định nhưng không được quá thời hạn điều tra.

- Giai đoạn truy tố: Do Viện kiểm sát quyết định nhưng không được quá thời hạn truy tố.

- Giai đoạn xét xử: Do Toà án quyết định nhưng không được quá thời hạn xét xử.

- Người bị kết án phạt tù: Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

Bị can có những quyền gì?

Căn cứ khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định bị can có những quyền sau:

- Được biết lý do mình bị khởi tố;

- Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

- Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;

- Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

- Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

- Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

- Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

- Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

- Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự thế nào?

Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Bài viết mới nhất