Trạng ngữ là gì? Có bao nhiêu loại trạng ngữ? Cho ví dụ minh hoạ?
(1) Trạng ngữ là gì?
Khái niệm: Trạng ngữ là thành phần phụ của câu, bổ sung ý nghĩa cho thành phần chính, giúp xác định thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích,… của sự việc nêu trong câu.
(2) Có bao nhiêu loại trạng ngữ? Cho ví dụ minh hoạ?
Tham khảo các loại trạng ngữ và ví dụ minh hoạ dưới đây:
Loại trạng ngữ | Ý nghĩa | Ví dụ |
Trạng ngữ chỉ thời gian | Chỉ thời gian, thời điểm | Hôm nay, ngoài trời đổ mưa |
Trạng ngữ chỉ nơi chốn | Chỉ địa điểm, vị trí | Ngoài ruộng, những bông lúa trổ bông vàng hoe |
Trạng ngữ chỉ nguyên nhân | Chỉ lý do | Vì đường đông, nên em đến đường trễ |
Trạng ngữ chỉ mục đích | Chỉ mục tiêu hướng tới | Để đạt được điểm 10, em đã học bài suốt đêm |
Trạng ngữ chỉ phương tiện, cách thức | Chỉ phương tiện thực hiện hành động | Bằng chiếc xe đạp mới mua, em đến trường mỗi ngày. |
Lưu ý:
- Trạng ngữ là thành phần phụ của câu
- 1 câu có thể có 1 hoặc nhiều trạng ngữ
- Trạng ngữ thường đứng đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu
- Trạng ngữ thường ngăn cách với thành phần chính bằng dấu phẩy
*Trên đây là thông tin Trạng ngữ là gì? Có bao nhiêu loại trạng ngữ? Cho ví dụ minh hoạ?

Trạng ngữ là gì? Có bao nhiêu loại trạng ngữ? Cho ví dụ minh hoạ? (Hình từ Internet)
Quan điểm xây dựng chương trình môn ngữ văn chương trình giáo dục phổ thông là gì?
Căn cứ theo Mục 2 Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT quy định chương trình môn Ngữ văn tuân thủ các quy định cơ bản được nêu trong Chương trình tổng thể, đồng thời nhấn mạnh một số quan điểm sau:
- Chương trình được xây dựng trên nền tảng lí luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu nghiên cứu về giáo dục học, tâm lí học và phương pháp dạy học Ngữ văn; thành tựu nghiên cứu về văn học và ngôn ngữ học; thành tựu văn học Việt Nam qua các thời kì;
Kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Ngữ văn của Việt Nam, đặc biệt từ đầu thế kỉ 21 đến nay và xu thế quốc tế trong phát triển chương trình nói chung, chương trình môn Ngữ văn nói riêng những năm gần đây, nhất là chương trình của những quốc gia phát triển;
Thực tiễn xã hội, giáo dục, điều kiện kinh tế và truyền thống văn hoá Việt Nam, đặc biệt là sự đa dạng của đối tượng học sinh xét về phương diện vùng miền, điều kiện và khả năng học tập.
- Chương trình lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học.
Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về tiếng Việt và văn học được hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản; phục vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe.
- Chương trình được xây dựng theo hướng mở, thể hiện ở việc không quy định chi tiết về nội dung dạy học mà chỉ quy định những yêu cầu cần đạt về đọc, viết, nói và nghe cho mỗi lớp; quy định một số kiến thức cơ bản, cốt lõi về tiếng Việt, văn học và một số văn bản có vị trí, ý nghĩa quan trọng của văn học dân tộc là nội dung thống nhất bắt buộc đối với học sinh toàn quốc.
- Chương trình vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới, vừa chú trọng kế thừa và phát huy những ưu điểm của các chương trình môn Ngữ văn đã có, đặc biệt là chương trình hiện hành.
Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông ra sao?
Căn cứ theo Điều 30 Luật Giáo dục 2019 yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông như sau:
(1) Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.
(2) Yêu cầu về nội dung giáo dục phổ thông ở các cấp học được quy định như sau:
- Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật;
- Giáo dục trung học cơ sở củng cố, phát triển nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp;
- Giáo dục trung học phổ thông củng cố, phát triển nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho học sinh, có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.
(3) Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];