Tình trạng khẩn cấp là gì? Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp như thế nào?

Dương Thanh Trúc 228 lượt xem
20:45 | 23/12/2025
Tình trạng khẩn cấp là gì? Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp như thế nào?
Nội dung chính
  1. Tình trạng khẩn cấp là gì?
  2. Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp như thế nào?
  3. Thẩm quyền, trình tự ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp ra sao?

Tình trạng khẩn cấp là gì?

Căn cứ theo Điều 2 Luật Tình trạng khẩn cấp 2025 TẢI VỀ có giải thích tình trạng khẩn cấp là trạng thái xã hội được cấp có thẩm quyền ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp tại một hay nhiều địa phương hoặc trên phạm vi cả nước khi có thảm họa hoặc nguy cơ xảy ra thảm họa đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người, tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân hoặc có tình hình đe dọa nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Tình trạng khẩn cấp bao gồm:

- Tình trạng khẩn cấp về thảm họa.

- Tình trạng khẫn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

- Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.

*Lưu ý: Luật Tình trạng khẩn cấp 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp 2000 hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Tình trạng khẩn cấp là gì? Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khần cấp như thế nào?

Tình trạng khẩn cấp là gì? Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khần cấp như thế nào? (Hình từ Internet)

Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp như thế nào?

Căn cứ tại Điều 3 Luật Tình trạng khẩn cấp 2025 quy định nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp như sau:

- Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và diều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.

- Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, tính mạng, sức khỏe của người dân; huy động sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và sự tham gia của Nhân dân trong phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả củ tình trạng khẩn cấp.

- Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, có sự phân công, phân cấp, phân quyền, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và lực lượng trong tình trạng khẩn cấp; xác định trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện.

- Việc áp dụng, điều chỉnh, chấm dứt các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp phải bảo đảm kịp thời, công khai, minh bạch; các biện pháp làm hạn chế quyền con người, quyền công dân phải thật sự cần thiết, có căn cứ rõ ràng, tương xứng với tính chất, mức độ sự cổ, thảm họa và không phân biệt đổi xử.

- Việc quyết định các biện pháp nhằm ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khần cấp gây ra thiệt hại thì người ra quyết định không phải chịu trách nhiệm khi quyết định đó dựa trên thông tin có được tại thời điểm ra quyết định, đúng thẩm quyền và không có dộng cơ vụ lợi.

- Hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp phải được chuẩn bị từ sớm, từ xa; chủ động xây dựng lực lượng, trang bị phương tiện, thực hiện phương châm bốn tại chỗ kết hợp với hỗ trợ của Trung ương, địa phương và cộng đồng quốc tế; chủ động cảnh báo, dự báo, đánh giá nguy cơ xảy ra tình trạng khân cấp.

Thẩm quyền, trình tự ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp ra sao?

Theo Điều 9 Luật Tình trạng khẩn cấp 2025 quy định thẩm quyền, trình tự ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp như sau:

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết dịnh ban bố, bãi bỏ tình trạng khần cấp. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.

- Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được, Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.

- Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được thì đề nghị Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khần cấp.

- Tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ khi không còn nguy cơ xảy ra thảm họa hoặc thảm họa đã được ngăn chặn, khắc phục; tình hình quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đã ổn định.

Dương Thanh Trúc
Dương Thanh Trúc Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Bộ máy hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất