Quy trình chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư thôn, tổ dân phố theo Hướng dẫn 30 như thế nào?
Căn cứ tiểu mục 3 Mục III Hướng dẫn 03-HD/BTCTW năm 2026 quy trình chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư thôn, tổ dân phố như sau:
- Bước 1: Căn cứ quy định, hướng dẫn của Trung ương và tình hình thực tiễn đội ngũ cán bộ, Thường trực đảng ủy cấp xã chỉ đạo Ban xây dựng Đảng tham mưu xây dựng đề án nhân sự, xác định rõ số lượng, cơ cấu, dự kiến nhân sự chi ủy, bí thư, phó bí thư của các chi bộ thành lập mới sau sắp xếp; báo cáo, xin ý kiến của ban thường vụ đảng ủy cấp xã.
Bước 2: Sau khi đề án nhân sự và dự kiến danh sách nhân sự được thông qua, Thường trực đảng ủy cấp xã chủ trì tổ chức hội nghị triển khai quán triệt Đề án thành lập chi bộ thôn, tổ dân phố (mới) và thảo luận lấy ý kiến về đề án nhân sự với sự tham gia của bí thư, phó bí thư chi bộ các thôn, tổ dân phố thuộc diện sắp xếp.
Bước 3: Ban thường vụ đảng ủy cấp xã giao đồng chí đảng ủy viên cấp xã được phân công phụ trách hoặc đại diện lãnh đạo ban xây dựng đảng đảng ủy cấp xã chủ trì tổ chức các hội nghị làm việc với các chi ủy chi bộ (đối với nơi không có chi ủy thì thành phần là bí thư, phó bí thư (nếu có)) thuộc diện sắp xếp, sáp nhập để thảo luận, tham gia ý kiến và biểu quyết nhân sự chi bộ mới sau sắp xếp theo định hướng đề án nhân sự đã được thông qua theo đúng quy định.
Bước 4: Căn cứ kết quả tại bước 3, ban thường vụ đảng ủy cấp xã thảo luận, biểu quyết nhân sự và quyết định chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2025 - 2030 theo thẩm quyền.
Căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng, quy trình theo quy định và tình hình thực tiễn đội ngũ cán bộ, ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa việc chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2025 - 2030 theo thẩm quyền, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn, trên cơ sở nguyên tắc như sau:
- Bảo đảm quy định về tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu cấp ủy viên theo hướng hài hoà, hợp lý giữa các thôn, tổ dân phố; không bố trí cơ học, dàn đều giữa các chi bộ cũ trước sắp xếp.
- Trường hợp nhiều đồng chí đảm bảo tiêu chuẩn tham gia cấp ủy thì ưu tiên xem xét giới thiệu, lựa chọn những đồng chí có đủ điều kiện về độ tuổi tham gia cấp ủy trọn nhiệm kỳ, quan tâm nhân sự trẻ, có trình độ, năng lực, uy tín. Khuyến khích các đồng chí có trình độ lý luận chính trị trung cấp (nhất là bí thư, phó bí thư); có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số; có kinh nghiệm công tác thực tiễn, khả năng điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; có sự am hiểu về cộng đồng dân cư trên địa bàn; bảo đảm tính kế thừa, phát triển và từng bước trẻ hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên chi bộ thôn, tổ dân phố.

Quy trình chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư thôn, tổ dân phố theo Hướng dẫn 30 như thế nào? (Hình từ Internet)
Đảng viên có những quyền gì?
Căn cứ theo Điều 3 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 quy định về quyền của Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam như sau:
(1) Được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng.
(2) Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
(3) Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.
(4) Trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.
Lưu ý: Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng.
Nguyên tắc hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam như thế nào?
Căn cứ theo Điều 9 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là:
- Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ).
- Cấp uỷ các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp uỷ cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.
- Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.
- Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.
- Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];