- Phương án 4961 sắp xếp khu phố, ấp, thôn, khu dân cư tại TPHCM chi tiết ra sao?
- Phải hoàn thành và nộp Báo cáo tổng thể kết quả sắp xếp thôn, tổ dân phố và giải quyết chế độ cho người hoạt động không chuyên trách theo Chỉ thị 21 trước ngày mấy?
- Tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố theo quy mô số hộ gia đình ra sao?
Phương án 4961 sắp xếp khu phố, ấp, thôn, khu dân cư tại TPHCM chi tiết ra sao?
Ngày 10/6/2026 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Phương án Tổng thể 4961/PA-UBND năm 2026 về Sắp xếp, tổ chức lại khu phố, ấp, thôn, khu dân cư và kết thúc mô hình Tổ nhân dân tự quản, Tổ dân cư dưới khu phố, ấp, khu dân cư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi sắp xếp, Thành phố Hồ Chí Minh có 168 đơn vị hành chính cấp xã, với 5.947 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư.
Tuy nhiên, hiện nay Thành phố còn 66/168 ĐVHC cấp xã (là các ĐVHC cấp xã thuộc tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trước sắp xếp) đang duy trì 10.795 Tổ nhân dân tự quản, Tổ dân cư là chưa phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định 185/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Do đó, để thực hiện đúng quy định và tinh gọn bộ máy, Thành phố xây dựng Phương án triển khai đồng bộ việc sắp xếp khu phố, ấp, thôn, khu dân cư và kết thúc mô hình Tổ nhân dân tự quản, Tổ dân cư dưới khu phố, ấp, khu dân cư, bảo đảm công khai, dân chủ, đúng trình tự thủ tục theo quy định, phù hợp với đặc điểm văn hóa, truyền thống, điều kiện và ổn định tình hình địa phương.
Căn cứ thực trạng khu phố, ấp, thôn, khu dân cư trên địa bàn và các nguyên tắc sắp xếp, tổ chức lại, Ủy ban nhân dân 168 xã, phường, đặc khu đã tiến hành xây dựng Phương án sắp xếp, tổ chức lại khu phố, ấp, thôn, khu dân cư trên địa bàn, cụ thể:
[1] Sắp xếp, tổ chức lại 5.947 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư (trong đó 2.723/5.947 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư trên địa bàn Thành phố không đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình sắp xếp với các khu phố, ấp, thôn, khu dân cư liền kề đảm bảo tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình) như sau:
- Giữ nguyên 1.555 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư do đảm bảo tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình theo quy định.
- Thành lập 1.172 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư mới trên cơ sở sắp xếp nguyên trạng với khu phố, ấp, thôn, khu dân cư liền kề;
- Thành lập 1.217 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư mới trên cơ sở chia tách, tổ chức lại các khu phố, ấp, thôn, khu dân cư liền kề.
[2] Sau sắp xếp, tổ chức lại, toàn Thành phố có 3.944 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư, giảm 2.003 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư (giảm 33,68%), gồm:
- Ấp:
+ Có quy mô số hộ gia đình dưới 350 hộ: 04 ấp, khu dân cư;
+ Có quy mô số hộ gia đình từ đủ 350 hộ đến dưới 500 hộ: 01 thôn;
+ Có quy mô số hộ gia đình đủ 500 hộ: 02 ấp;
+ Có quy mô số hộ gia đình từ 500 hộ trở lên: 953 ấp, thôn, khu dân cư.
- Khu phố:
+ Có quy mô số hộ gia đình dưới 500 hộ: 01 khu phố;
+ Có quy mô số hộ gia đình từ đủ 500 hộ đến dưới 700 hộ: 01 khu phố;
+ Có quy mô số hộ gia đình đủ 700 hộ: 17 khu phố;
+ Có quy mô số hộ gia đình từ 700 hộ trở lên: 2.965 khu phố.
(Đính kèm Phụ lục Phương án tổng thể sắp xếp, tổ chức lại khu phố, ấp, thôn, khu dân cư trên địa bàn Thành phố)
- Sau sắp xếp, Thành phố có 91 khu phố và 23 ấp có quy mô số hộ gia đình từ 2.000 đến 25.000 hộ, lớn gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn quy mô hộ gia đình được quy định tại Điều 10 Nghị định 185/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Những khu phố, ấp nêu trên thuộc các địa bàn tập trung nhiều chung cư cao tầng; các khu chế xuất, khu công nghiệp với số lượng công nhân sống trong các khu nhà trọ, nhà lưu trú công nhân tập trung… Mặt khác, trong quá trình xây dựng phương án thì Ban Thường vụ Đảng ủy, Ủy ban nhân dân cấp xã đánh giá đây là các cộng đồng dân cư ổn định, tập trung và địa phương đảm bảo được công tác quản lý địa bàn trong suốt thời gian vừa qua. Do đó, để hạn chế tối đa việc chia tách 01 thôn, tổ dân phố thành nhiều cụm dân cư, để ổn định việc quản trị dân cư, tiếp tục phát huy hiệu quả công tác quản lý của chính quyền cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã đề nghị không chia tách, tổ chức lại đối với các khu phố, ấp nêu trên.
- Đồng thời, Thành phố còn 10/3.944 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư chưa đạt tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình thuộc các địa bàn có tính chất đặc thù: địa hình chia cắt phức tạp; giao thông đi lại khó khăn; dân cư sinh sống phân tán; thuộc khu vực quy hoạch, giải phóng mặt bằng, tổ chức tái định cư thấp hơn so với tiêu chuẩn tại Điều 10 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể:
+ 02 khu phố (01 khu phố tại phường Long Nguyên và 01 khu phố tại phường Tân Thành) thành lập sau sắp xếp, tổ chức lại nhưng chưa đảm bảo tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình theo quy định. Vì lý do: vị trí địa lý tách biệt nên không thể ghép thêm với các khu phố, ấp, thôn, khu dân cư khác.
+ 08 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư giữ nguyên không thực hiện sắp xếp, tổ chức lại (03 khu phố tại phường Bình Quới; 02 ấp thuộc xã đảo Thạnh An; 01 thôn tại xã Long Sơn và 02 khu dân cư thuộc đặc khu Côn Đảo) nhưng chưa đảm bảo tiêu chuẩn quy mô số hộ gia đình theo quy định. Vì lý do: 08 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư có yếu tố đặc thù, thuộc các địa bàn có tính chất đặc thù như: địa hình chia cắt phức tạp; giao thông đi lại khó khăn; dân cư sinh sống phân tán; thuộc khu vực quy hoạch, giải phóng mặt bằng, tổ chức tái định cư.
Xem thêm chi tiết Phương án 4961 sắp xếp khu phố ấp thôn khu dân cư tại TPHCM tại:

Phương án 4961 sắp xếp khu phố ấp thôn khu dân cư tại TPHCM chi tiết ra sao? (Hình từ Internet)
Phải hoàn thành và nộp Báo cáo tổng thể kết quả sắp xếp thôn, tổ dân phố và giải quyết chế độ cho người hoạt động không chuyên trách theo Chỉ thị 21 trước ngày mấy?
Căn cứ tại Tiểu mục 4 Mục 2 Chỉ thị 21/CT-TTg năm 2026 về tổ chức thực hiện như sau:
II. TỎ CHỨC THỰC HIỆN
[...]
4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
a) Khẩn trương tổ chức rà soát toàn bộ thôn, tổ dân phố trên địa bàn; xây dựng Phương án tổng thể sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố (trong đó bao gồm phương án kiện toàn đội ngũ người hoạt động không chuyên trách tại các thôn, tổ dân phố sau sắp xếp và chính sách hỗ trợ theo quy định; đồng thời giải quyết chế độ, chính sách cho người không tiếp tục tham gia hoạt động không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố), báo cáo cấp ủy cùng cấp trước khi ban hành; hoàn thành trước ngày 10 tháng 6 năm 2026.
b) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án sắp xếp thôn, tổ dân phố; tổ chức lấy ý kiến Nhân dân theo đúng quy định của pháp luật và trình Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua Đề án bảo đảm công khai, minh bạch và tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện; hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.
c) Kết thúc hoạt động đối với người hoạt động không chuyên trách tại cấp xã trước ngày 31 tháng 5 năm 2026. Khẩn trương xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện phương án bố trí, sử dụng, giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; bảo đảm hoàn thành đồng bộ với thời gian hoàn thành sắp xếp thôn, tổ dân phố, trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.
[...]
d) Định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ để kịp thời tổng hợp báo cáo Ban Bí thư Trung ương Đảng theo yêu cầu về tiến độ, kết quả thực hiện (qua Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ) vào thứ Sáu hàng tuần theo đề cương và hướng dẫn của Bộ Nội vụ; báo cáo tổng thể kết quả thực hiện trước ngày 05 tháng 7 năm 2026.
Theo đó, Chỉ thị 21/CT-TTg năm 2026 nêu rõ phải thực hiện báo cáo tổng thể kết quả thực hiện việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thốn, tổ dân phố trước ngày 05 tháng 7 năm 2026.
Tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố theo quy mô số hộ gia đình ra sao?
Căn cứ tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 185/2026/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố theo quy mô số hộ gia đình như sau:
- Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng trung du và miền núi phía Bắc: Thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên;
- Ở vùng đồng bằng sông Hồng: Thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng Bắc Trung bộ: Thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên: Thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng Đông Nam bộ: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên;
- Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.
*Bài viết Phương án 4961 sắp xếp khu phố ấp thôn khu dân cư tại TPHCM chi tiết ra sao?
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];