Một số giải pháp ứng phó với tình hình bệnh dịch COVID 19 theo Công văn 708/KCB-NV 2025 là gì?

—
17:11 | 22/05/2025
Một số giải pháp ứng phó với tình hình bệnh dịch COVID 19 theo Công văn 708/KCB-NV 2025 là gì?
Nội dung chính
  1. Một số giải pháp ứng phó với tình hình bệnh dịch COVID 19 theo Công văn 708/KCB-NV 2025 là gì?
  2. Đặc điểm chung của Bệnh COVID 19 là gì?
  3. Nguyên tắc và thẩm quyền ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch COVID 19 thế nào?

Một số giải pháp ứng phó với tình hình bệnh dịch COVID 19 theo Công văn 708/KCB-NV 2025 là gì?

Ngày 19/5/2025, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh ban hành Công văn 708/KCB-NV năm 2025 về việc tăng cường công tác khám, phát hiện, điều trị ca bệnh COVID-19.

Tải về

Theo Công văn 708/KCB-NV năm 2025, để chủ động ứng phó với tình hình bệnh dịch COVID-19, bảo đảm thực hiện tốt việc khám, phát hiện, thu dung, điều trị người bệnh COVID-19, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đề nghị giám đốc các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế, giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủ trưởng Y tế các Bộ, ngành khẩn trương triển khai một số giải pháp sau:

(1) Rà soát và cập nhật kế hoạch thu dung, điều trị người bệnh COVID-19 của tỉnh, của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo dự báo tình hình bệnh dịch, không để tình trạng ứng phó thụ động, bất ngờ.

(2) Chuẩn bị sẵn sàng cơ sở vật chất, khu vực cách ly, thiết bị y tế, vật tư y tế để tổ chức thu dung, cách ly, chẩn đoán, điều trị và thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn.

(3) Tăng cường các biện pháp phòng lây nhiễm, đặc biệt là lây nhiễm qua đường hô hấp để hạn chế tối đa lây lan dịch bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Có giải pháp bảo đảm an toàn cho người bệnh thuộc nhóm có nguy cơ cao (như phụ nữ có thai, người mắc bệnh nền, bệnh nặng, người cao tuổi,...), khu vực hồi sức tích cực, tim mạch, thận nhân tạo, phẫu thuật…

Đồng thời tăng cường công tác vệ sinh ngoại cảnh, vệ sinh bệnh phòng, bố trí sắp xếp khoa phòng thuận tiện, phù hợp tình hình dịch và bảo đảm môi trường xanh, sạch, đẹp.

(4) Nghiêm túc thực hiện việc báo cáo ca bệnh theo quy định tại Thông tư 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Tải về Công văn 708/KCB-NV năm 2025

* Trên đây là Thông tin về Một số giải pháp ứng phó với tình hình bệnh dịch COVID 19 theo Công văn 708/KCB-NV 2025.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/Hoidapphapluat/2025/NTKL/22052025/dich-covid.jpg

Một số giải pháp ứng phó với tình hình bệnh dịch COVID 19 theo Công văn 708/KCB-NV 2025 là gì? (Hình từ Internet)

Đặc điểm chung của Bệnh COVID 19 là gì?

Đặc điểm chung của Bệnh COVID 19 được quy định tại Phần 1 Hướng dẫn giám sát và phòng, chống COVID-19 ban hành kèm theo Quyết định 3985/QĐ-BYT năm 2023, cụ thể như sau:

Bệnh COVID-19 do vi rút SARS-CoV-2 gây ra, là bệnh truyền nhiễm cấp tính. Vi rút gây bệnh thường xuyên biến đổi tạo nên các biến thể mới với khả năng lây lan nhanh.

Kết quả giám sát cho thấy phần lớn các biến thể lưu hành phổ biến trên thế giới đều có ghi nhận tại Việt Nam. Vi rút SARS-CoV-2 lưu hành phổ biến nhất hiện nay trên thế giới và Việt Nam đều thuộc biến thể Omicron.

SARS-CoV-2 lây trực tiếp từ người sang người qua đường hô hấp (qua giọt bắn là chủ yếu) và qua bàn tay tiếp xúc với các vật dụng, bề mặt bị nhiễm SARS-CoV-2 rồi đưa lên mắt, mũi, miệng.

SARS-CoV-2 cũng có khả năng lây truyền qua hạt khí dung ở trong những không gian kín, đông người và thông gió hạn chế hoặc nơi có nhiều thao tác tạo khí dung như trong các cơ sở điều trị.

Thời gian ủ bệnh trung bình hiện nay khoảng 4 ngày. Người bệnh COVID-19 có thể phát tán vi rút và lây cho người khác từ 2 ngày trước khi khởi phát cho tới 3 ngày sau khi hết triệu chứng. Người không triệu chứng vẫn có thể đào thải vi rút và lây nhiễm cho người khác.

Người nhiễm SARS-CoV-2 có biểu hiện lâm sàng đa dạng, có thể không có triệu chứng, có triệu chứng nhẹ hoặc có biểu hiện bệnh lý nặng như viêm phổi nặng, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) nhiễm khuẩn huyết suy chức năng đa cơ quan và tử vong.

Nhóm nguy cơ mắc bệnh nặng bao gồm người cao tuổi, người có bệnh nền nặng như tiểu đường/tim mạch, những người có bệnh lý suy giảm miễn dịch, phụ nữ có thai. Hiện bệnh đã có vắc xin dự phòng và có thuốc kháng vi rút để điều trị.

Ngày 05 tháng 5 năm 2023, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố COVID-19 không còn là tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng gây quan ngại toàn cầu, tuy nhiên khuyến cáo các nước vẫn cần triển khai các biện pháp giám sát, phòng chống, chuyển từ phòng chống đại dịch sang quản lý bền vững.

Hướng dẫn giám sát và phòng, chống COVID-19 ban hành kèm theo Quyết định 3985/QĐ-BYT năm 2023 được xây dựng, cập nhật và điều chỉnh qua hoạt động thực tiễn với các nội dung giám sát và các hoạt động phòng, chống dịch phù hợp với tình hình dịch bệnh hiện tại để các tỉnh, thành phố, đơn vị y tế và các đơn vị liên quan căn cứ áp dụng, tổ chức triển khai theo thực tế tại địa phương, đơn vị.

Nguyên tắc và thẩm quyền ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch COVID 19 thế nào?

Ngày 19/10/2023, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 3896/QĐ-BYT năm 2023 về điều chỉnh bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra (COVID-19) từ bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A sang bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 2 Quyết định 3896/QĐ-BYT năm 2023 thì các hoạt động phòng, chống COVID-19 được thực hiện theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B.

Như vậy, từ ngày 20 tháng 10 năm 2023, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra (COVID-19) được phân loại bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B.

Nguyên tắc và thẩm quyền ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch COVID 19 được quy định tại Điều 42 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm 2007, cụ thể như sau:

(1) Việc ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:

- Khi dịch lây lan nhanh trên diện rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người và kinh tế - xã hội của đất nước thì phải ban bố tình trạng khẩn cấp;

- Việc ban bố tình trạng khẩn cấp phải công khai, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền.

(2) Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết ban bố tình trạng khẩn cấp theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp ngay được thì Chủ tịch nước ra lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Thể thao - Y tế Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Hướng dẫn kiểm tra nhà nước về ATTP đối với dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm theo Công văn 22082 ra sao?

Hướng dẫn về việc thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với sản phẩm dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm theo Công văn 22082/CHQ-GSQL ngày 23/09/2026 ra sao?

Bài viết mới nhất