Luật Tương trợ tư pháp có bao nhiêu chương bao nhiêu điều?
Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật Tương trợ tư pháp 2007 có hiệu lực từ ngày 01/07/2008.
Theo đó, tính tới tháng 10 năm 2025, chưa có văn bản pháp luật thay thế Luật Tương trợ tư pháp 2007 nên Luật Tương trợ tư pháp 2007 vẫn còn hiệu lực. Luật Tương trợ tư pháp mới nhất là Luật Tương trợ tư pháp 2007.
Luật Tương trợ tư pháp 2007 có tổng cộng 07 Chương và 72 Điều luật.
*Trên đây là nội dung thông tin về Luật Tương trợ tư pháp có bao nhiêu chương bao nhiêu điều?
Xem thêm:
>>> Luật Phí và lệ phí bao nhiêu Chương bao nhiêu Điều?
>>> Luật Giáo dục bao nhiêu Chương bao nhiêu Điều?

Luật Tương trợ tư pháp có bao nhiêu chương bao nhiêu điều? (Hình từ Internet)
Văn bản ủy thác tư pháp về hình sự phải có các nội dung nào?
Căn cứ theo Điều 19 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định văn bản ủy thác tư pháp về hình sự phải có các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản;
- Tên, địa chỉ cơ quan ủy thác tư pháp;
- Tên, địa chỉ hoặc văn phòng chính của cơ quan được ủy thác tư pháp;
- Họ, tên, địa chỉ nơi thường trú hoặc nơi làm việc của cá nhân; tên đầy đủ, địa chỉ hoặc văn phòng chính của cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến ủy thác tư pháp về hình sự;
- Nội dung công việc được ủy thác tư pháp về hình sự phải nêu rõ mục đích ủy thác; tóm tắt nội dung vụ án, các tình tiết liên quan, trích dẫn điều luật và hình phạt có thể được áp dụng; tiến độ điều tra, truy tố, xét xử; thời hạn thực hiện ủy thác.
Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể, theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài, văn bản ủy thác tư pháp về hình sự ngoài các nội dung nêu trên còn có thể có các nội dung sau:
- Đặc điểm nhận dạng, quốc tịch và nơi ở của đối tượng trong vụ án hình sự hoặc những người có thông tin liên quan đến vụ án đó;
- Vấn đề cần thẩm vấn, câu hỏi đặt ra, tài liệu, hồ sơ hoặc vật chứng được đưa ra và nếu có thể thì mô tả đặc điểm, hình dạng người được yêu cầu xuất trình tài liệu, hồ sơ, vật chứng đối với ủy thác thu thập chứng cứ;
- Nội dung công việc, câu hỏi, yêu cầu đối với người làm chứng, người giám định được triệu tập;
- Mô tả về tài sản và nơi có tài sản cần tìm; căn cứ để xác định tài sản do phạm tội mà có đang có tại nước yêu cầu và có thể thuộc quyền tài phán của nước yêu cầu; việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án đối với ủy thác về khám xét, thu giữ hoặc truy tìm, tịch thu tài sản do phạm tội mà có;
- Biện pháp cần áp dụng đối với ủy thác tư pháp về hình sự có thể dẫn đến việc phát hiện hoặc thu hồi tài sản do phạm tội mà có;
- Yêu cầu hoặc thủ tục của nước yêu cầu để bảo đảm thực hiện có hiệu quả ủy thác tư pháp, cách thức hoặc hình thức cung cấp thông tin, chứng cứ, tài liệu, đồ vật;
- Yêu cầu về bảo mật ủy thác tư pháp;
- Mục đích, dự định thời gian và lịch trình chuyến đi trong trường hợp người có thẩm quyền của nước yêu cầu cần phải đến lãnh thổ của nước được yêu cầu vì mục đích liên quan đến ủy thác tư pháp;
- Bản án, quyết định hình sự của Tòa án và tài liệu, chứng cứ hoặc thông tin khác cần thiết cho việc thực hiện ủy thác tư pháp.
Lưu ý: Trường hợp thông tin nêu trong văn bản ủy thác tư pháp về hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 Luật Tương trợ tư pháp 2007 không đủ để thực hiện ủy thác thì cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu còn có thể đề nghị bằng văn bản với nước yêu cầu cung cấp thông tin bổ sung và ấn định thời hạn cụ thể trả lời kết quả bổ sung.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm gì trong hoạt động tương trợ tư pháp?
Căn cứ theo Điều 64 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong hoạt động tương trợ tư pháp gồm:
- Tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các ủy thác tư pháp về hình sự; xem xét, quyết định việc thực hiện và yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân hoặc cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự; từ chối hoặc hoãn thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự theo thẩm quyền.
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp theo thẩm quyền.
- Hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.
- Đề xuất việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tương trợ tư pháp.
- Định kỳ sáu tháng và hằng năm thông báo với Bộ Tư pháp tình hình thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];