Cơ quan nào chỉ đạo việc đăng tải nội dung vận động bầu cử trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội?

17:45 | 29/01/2026
Theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), cơ quan nào chỉ đạo việc đăng tải nội dung vận động bầu cử trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội?
Nội dung chính
  1. Cơ quan nào chỉ đạo việc đăng tải nội dung vận động bầu cử trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội?
  2. Những hành vi nào bị cấm trong vận động bầu cử?
  3. Bầu cử thêm đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?

Cơ quan nào chỉ đạo việc đăng tải nội dung vận động bầu cử trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội?

Căn cứ khoản 3 Điều 67 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định về vận động bầu cử thông qua phương tiện thông tin đại chúng như sau:

Điều 67. Vận động bầu cử thông qua phương tiện thông tin đại chúng
[...]
3. Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử.
[...]

Như vậy, cơ quan chỉ đạo việc đăng tải nội dung vận động bầu cử trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội là Hội đồng bầu cử quốc gia.

Cơ quan nào chỉ đạo việc đăng tải nội dung vận động bầu cử trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội?

Cơ quan nào chỉ đạo việc đăng tải nội dung vận động bầu cử trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội? (Hình từ Internet)

Những hành vi nào bị cấm trong vận động bầu cử?

Căn cứ Điều 68 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định về những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử như sau:

Điều 68. Những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử
1. Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.
2. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.
3. Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.
4. Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.

Như vậy, những hành vi sau đây bị cấm trong vận động bầu cử:

- Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.

- Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.

- Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.

Bầu cử thêm đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 79 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 có nội dung bị thay thế bởi điểm l khoản 23 Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sửa đổi 2025 quy định về Bầu cử thêm như sau:

- Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử đại biểu Quốc hội chưa đủ số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử ở tỉnh để đề nghị Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định việc bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó.

- Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân chưa đủ hai phần ba số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó để quyết định ngày bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó.

- Trong trường hợp bầu cử thêm thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 07 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên nhưng không trúng cử. Người trúng cử là người được quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ và có số phiếu bầu cao hơn. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.

Mạc Duy Văn
Mạc Duy Văn Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Bộ máy hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất

Hỏi đáp Pháp luật
Tiểu mục 4917 là gì theo Thông tư 130?

Theo Thông tư 130/2025/TT-BTC thì Tiểu mục 4917 là Tiền chậm nộp thuế TNCN (không bao gồm tiền chậm nộp TNCN từ hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hoá).