Chính sách mới về Giáo dục có hiệu lực tháng 5/2026 chi tiết như thế nào?

Nguyễn Thị Kim Linh 397 lượt xem
10:00 | 28/04/2026
Chính sách mới về Giáo dục có hiệu lực tháng 5/2026 chi tiết như thế nào? Học tập là quyền và nghĩa vụ của ai?
Nội dung chính
  1. Chính sách mới về Giáo dục có hiệu lực tháng 5 2026 chi tiết như thế nào?
  2. Học tập là quyền và nghĩa vụ của ai?
  3. Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của ai?

Chính sách mới về Giáo dục có hiệu lực tháng 5 2026 chi tiết như thế nào?

Dưới đây là Tổng hợp chính sách mới về Giáo dục có hiệu lực tháng 5/2026:

[1] Từ 10/5/2026, áp dụng Điều lệ mới đối với trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học

Ngày 24/03/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT Ban hành Điều lệ trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.

Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 10/5/2026, thay thế các văn bản sau:

- Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường tiểu học;

- Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học;

- Quyết định 51/2002/QĐ-BGDĐT về chuyển trường và tiếp nhận học sinh học tại các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông; Thông tư 50/2021/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định chuyển trường và tiếp nhận học sinh học tại các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông ban hành kèm theo Quyết định 51/2002/QĐ-BGDĐT;

- Thông tư 31/2023/TT-BGDĐT ban hành quy chế xét tốt nghiệp trung học cơ sở.

[2] Từ 15/5/2026, giáo viên dạy thêm ngoài nhà trường phải báo cáo mối quan hệ với người đứng tên cơ sở dạy thêm

Căn cứ theo Điều 6 Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được sửa đổi bởi Điều 3 Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT có quy định như sau:

Điều 6. Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường
1. Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau:
a) Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật;
b) Công khai, cập nhật thường xuyên trên trang thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm để bảo đảm sự tham gia giám sát của học sinh, gia đình và cộng đồng xã hội (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục kèm theo Thông tư này)."
2. Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm.
3. Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm tuân thủ quy tắc ứng xử của nhà giáo theo quy định, có trách nhiệm báo cáo với Hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng kí kinh doanh cơ sở dạy thêm, thời gian tham gia dạy thêm trước khi bắt đầu và cập nhật kịp thời khi có thay đổi đối với các nội dung đã báo cáo, bảo đảm minh bạch, phòng ngừa xung đột lợi ích trong hoạt động dạy thêm.

Như vậy, từ ngày 15/5/2026, giáo viên dạy học tại các nhà trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải có trách nhiệm báo cáo với Hiệu trưởng về mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng kí kinh doanh cơ sở dạy thêm.

[3] Từ 15/5/2026, UBND cấp xã phải thiết lập, công khai đường dây nóng tiếp nhận phản ánh dạy thêm, học thêm

Căn cứ Điều 12 Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được sửa đổi bởi Điều 7 Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT quy định cụ thể như sau:

Điều 12. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Chịu trách nhiệm quản lí hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn.
2. Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy định về dạy thêm, học thêm trên địa bàn; thiết lập và công khai niêm yết số điện thoại đường dây nóng trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp xã (nếu có) hoặc tại trụ sở cơ quan Ủy ban nhân dân cấp xã để tiếp nhận, xử lí các kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn quản lí; xử lí theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lí vi phạm.
3. Thực hiện theo dõi, kiểm tra và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, giờ làm thêm và các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ của các tổ chức, cá nhân dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường theo đúng thẩm quyền được pháp luật quy định.”

Như vậy, từ ngày 15/5/2026, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phải thiết lập và công khai niêm yết số điện thoại đường dây nóng trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp xã (nếu có) hoặc tại trụ sở cơ quan Ủy ban nhân dân cấp xã để tiếp nhận, xử lí các kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn quản lí.

[4] Từ 15/5/2026, sẽ xử lí nghiêm hành vi ép buộc, trục lợi trong hoạt động dạy thêm học thêm

Căn cứ theo Điều 15 Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được bổ sung bởi Điều 9 Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT có quy định về thanh tra, kiểm tra như sau:

Điều 15. Thanh tra, kiểm tra
1. Hoạt động dạy thêm, học thêm chịu sự thanh tra của các cơ quan thanh tra nhà nước theo quy định của pháp luật.
2. Hoạt động dạy thêm, học thêm chịu sự kiểm tra của các cơ quan quản lí giáo dục, cơ quan quản lí nhà nước các cấp theo phân cấp.
3. Việc thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy thêm, học thêm được thực hiện theo nguyên tắc công khai, khách quan, đúng thẩm quyền; kịp thời phát hiện, xử lí theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm; xử lí nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm, tái phạm hoặc có hành vi ép buộc, trục lợi trong hoạt động dạy thêm, học thêm.

Như vậy, từ ngày 15/5/2026, các trường hợp cố tình vi phạm, tái phạm hoặc có hành vi ép buộc, trục lợi trong hoạt động dạy thêm học thêm sẽ được xử lý nghiêm.

[5] Từ 15/5/2026, Hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm dạy thêm kéo dài

Căn cứ theo khoản 4 Điều 13 Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 8 Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT quy định:

Điều 13. Trách nhiệm của Hiệu trưởng
1. Tổ chức việc dạy thêm, học thêm trong nhà trường theo quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Quản lí giáo viên đang dạy học tại nhà trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường bảo đảm thực hiện theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư này; cụ thể hóa các quy định liên quan đến trách nhiệm và hành vi ứng xử của nhà giáo khi tham gia dạy thêm hoặc quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm trong quy tắc ứng xử của nhà giáo do nhà trường ban hành theo thẩm quyền, phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện thực tiễn của nhà trường; phối hợp theo dõi, kiểm tra hoạt động dạy thêm ngoài nhà trường của giáo viên đang dạy học tại nhà trường.
3. Chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lí trực tiếp về chất lượng dạy thêm, học thêm trong nhà trường; việc quản lí, sử dụng kinh phí tổ chức dạy thêm, học thêm trong nhà trường theo quy định.
4. Xử lí theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lí vi phạm quy định về dạy thêm, học thêm.
Thiết lập và công khai số điện thoại đường dây nóng trên trang thông tin điện tử của nhà trường hoặc niêm yết tại nhà trường để tiếp nhận, xử lí các kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm trái quy định của giáo viên đang dạy học tại nhà trường; chịu trách nhiệm tổ chức thông tin, hướng dẫn giáo viên thực hiện quy định về dạy thêm, học thêm; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, xử lí theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lí vi phạm; chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lí cấp trên nếu để xảy ra tình trạng vi phạm quy định về dạy thêm, học thêm kéo dài, phức tạp trong phạm vi quản lí.
5. Tiếp nhận và xử lí ý kiến, kiến nghị, nguyện vọng của học sinh và cha mẹ học sinh về việc dạy thêm, học thêm trước và trong quá trình tổ chức thực hiện.

Như vậy, từ ngày 15/5/2026, Hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lí cấp trên nếu để xảy ra tình trạng vi phạm quy định về dạy thêm, học thêm kéo dài, phức tạp trong phạm vi quản lí.

[6] Từ 15/5/2026, học tăng cường ngoại ngữ, giáo dục STEM không được coi là dạy thêm, học thêm

Căn cứ theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được sửa đổi bởi Điều 1 Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT có quy định về dạy thêm học thêm như sau:

Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Dạy thêm, học thêm là hoạt động dạy học phụ thêm ngoài thời lượng quy định trong kế hoạch giáo dục đối với các môn học, hoạt động giáo dục (sau đây gọi chung là môn học) trong Chương trình giáo dục phổ thông, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Các hoạt động giáo dục về văn hóa, nghệ thuật, thể thao; tăng cường năng lực ngoại ngữ, giáo dục STEM/STEAM, giáo dục năng lực số, trí tuệ nhân tạo (AI), giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống và các nội dung giáo dục khác theo quy định nhằm giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng khiếu của học sinh mà không thuộc nội dung chương trình các môn học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này và được thực hiện theo các quy định khác của pháp luật.
2. Dạy thêm, học thêm trong nhà trường là hoạt động dạy thêm, học thêm do cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục khác thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông (sau đây gọi chung là nhà trường) tổ chức thực hiện.
3. Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường là hoạt động dạy thêm, học thêm không do nhà trường quy định tại khoản 2 Điều này tổ chức thực hiện.

Như vậy, từ ngày 15/5/2026, hoạt động giáo dục tăng cường năng lực ngoại ngữ, giáo dục STEM/STEAM không thuộc nội dung chương trình các môn học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thì không được coi là dạy thêm học thêm.

[7] Từ 15/5/2026, học bạ, bằng cấp sẽ được tích hợp trên VNeID

Căn cứ theo điểm a, điểm b khoản 8 Điều 1 Nghị định 88/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 8. Tạo lập, thu nhận và lưu giữ dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của người học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1. Dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời được tạo lập bao gồm:
a) Thông tin về học bạ ghi nhận toàn bộ quá trình học tập; kết quả học tập và rèn luyện của người học đối với giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên;
b) Thông tin về văn bằng, chứng chỉ được cấp sau khi người học tốt nghiệp cấp học, hoàn thành chương trình giáo dục hoặc khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ;
c) Thông tin công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
d) Thông tin kết quả học tập của người học trong các chương trình giáo dục đại học, các chương trình giáo dục nghề nghiệp;
đ) Thông tin chứng nhận kết quả đánh giá năng lực người học thông qua các kỳ thi hoặc kỳ kiểm tra do cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức đánh giá giáo dục có thẩm quyền tổ chức;
e) Thông tin chứng nhận giải thưởng, thành tích học tập của người học do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp;
g) Thông tin xác nhận đang theo học tại cơ sở giáo dục.
[...]

Căn cứ theo điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị định 88/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 12. Khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo
[...]
3. Sử dụng dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời trên ứng dụng định danh quốc gia VNeID:
a) Các cơ quan, đơn vị trong hệ thống giáo dục quốc dân theo thẩm quyền có trách nhiệm chuẩn bị, xây dựng hệ thống công nghệ hoặc sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp phục vụ việc tạo lập, báo cáo dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời theo quy định tại Điều 8 Nghị định này;
b) Dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời sau khi được tiếp nhận, lưu trữ hợp lệ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo sẽ được chia sẻ, liên thông tích hợp tự động trên ứng dụng định danh quốc gia VNeID;
c) Các cá nhân có quyền khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của bản thân đã được tích hợp trên ứng dụng định danh quốc gia để sử dụng tương đương cho các loại văn bản giấy liên quan.
[...]

Như vậy, từ ngày 15/5/2026, dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời (trong đó có bao gồm thông tin về học bạ, bằng cấp) sau khi được tiếp nhận, lưu trữ hợp lệ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo sẽ được chia sẻ, liên thông tích hợp tự động trên ứng dụng định danh quốc gia VNeID.

[8] Trước 1/1/2027, hoàn thành cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời cho tất cả người học

Căn cứ theo khoản 2 Điều 25 Nghị định 88/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 25. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Nghị định này.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn thành việc cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo cho tất cả các cá nhân có liên quan trong hệ thống giáo dục quốc dân trước ngày 01 tháng 01 năm 2027.
3. Chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu phải tạo lập dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của người học theo quy định tại Điều 8 Nghị định này từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
4. Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thông báo kịp thời cho cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu về giáo dục và đào tạo khi có sai sót đối với dữ liệu liên quan đến cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân.
5. Các cơ quan, đơn vị theo thẩm quyền xem xét sử dụng nguồn kinh phí phù hợp của mình hoặc đề xuất cơ quan quản lý liên quan bố trí nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để triển khai số hóa dữ liệu văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc.
6. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Như vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm hoàn thành việc cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo cho tất cả các cá nhân có liên quan trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Thời gian hoàn thành là trước ngày 01/01/2027.

[9] Từ 15/5/2026, mỗi người học được cấp 1 mã hồ sơ học tập suốt đời theo số định danh cá nhân

Căn cứ theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 88/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 9. Mã số hồ sơ học tập suốt đời
1. Người học tham gia trong hệ thống giáo dục quốc dân được cấp một mã số hồ sơ học tập suốt đời duy nhất theo số định danh cá nhân. Trước khi cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời, các thông tin cơ bản của cá nhân phải được kiểm tra, đối chiếu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
2. Mã số hồ sơ học tập suốt đời của cá nhân được dùng làm mã khóa truy cập để khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của người học lưu giữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo. Thông tin về mã số hồ sơ học tập suốt đời và các dữ liệu liên quan được quản lý theo các quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết việc sử dụng mã số hồ sơ học tập suốt đời phục vụ quản lý truy cập, khai thác dữ liệu giáo dục và đào tạo.

Như vậy, từ ngày 15/5/2026, người học tham gia trong hệ thống giáo dục quốc dân được cấp một mã hồ sơ học tập suốt đời duy nhất theo số định danh cá nhân.

Trước khi cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời, các thông tin cơ bản của cá nhân phải được kiểm tra, đối chiếu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

[...]

Xem thêm:

Học sinh THPT khi nào nghỉ hè 2026?

Lịch nghỉ hè 2026 học sinh TPHCM khi nào?

Chính sách mới về giáo dục có hiệu lực tháng 5/2026 chi tiết như thế nào?

Chính sách mới về giáo dục có hiệu lực tháng 5 2026 chi tiết như thế nào? (Hình từ Internet)

Học tập là quyền và nghĩa vụ của ai?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục 2019 quy định như sau:

Điều 13. Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân
1. Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.
2. Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo môi trường giáo dục an toàn, bảo đảm giáo dục hòa nhập, tạo điều kiện để người học phát huy tiềm năng, năng khiếu của mình.
3. Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, người học thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập.

Như vậy, học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.

Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của ai?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 16 Luật Giáo dục 2019 quy định như sau:

Điều 16. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục
1. Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.
2. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao.
3. Tổ chức, gia đình và cá nhân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với cơ sở giáo dục thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.
4. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong sự nghiệp giáo dục được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Như vậy, phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.

* Trên đây là nội dung Chính sách mới về giáo dục có hiệu lực tháng 5 2026 chi tiết như thế nào?

Nguyễn Thị Kim Linh
Nguyễn Thị Kim Linh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Giáo dục Xem thêm

Bài viết mới nhất