Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự có áp dụng đối với bị can là pháp nhân không?

Lê Nguyễn Minh Khanh 245 lượt xem
09:15 | 24/10/2025
Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự có áp dụng đối với bị can là pháp nhân không?
Nội dung chính
  1. Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự có áp dụng đối với bị can là pháp nhân không?
  2. Trường hợp pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì các Cơ quan điều tra tiến hành áp dụng các biện pháp cưỡng chế nào?
  3. Biện pháp cưỡng chế bằng hình thức kê biên tài sản được pháp luật quy định như thế nào?

Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự có áp dụng đối với bị can là pháp nhân không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về biện pháp ngăn chặn như sau:

Điều 109. Các biện pháp ngăn chặn
1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.
2. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

Theo quy định trên, có thể thấy, các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự không áp dụng đối với bị can là pháp nhân mà chỉ áp dụng đối với cá nhân người bị buộc tội.

Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự có áp dụng đối với bị can là pháp nhân không?

Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự có áp dụng đối với bị can là pháp nhân không? (Hình từ Internet)

Trường hợp pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì các Cơ quan điều tra tiến hành áp dụng các biện pháp cưỡng chế nào?

Căn cứ theo Điều 436 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây:

- Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;

- Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;

- Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;

- Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.

Lưu ý: Thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều 436 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử.

Biện pháp cưỡng chế bằng hình thức kê biên tài sản được pháp luật quy định như thế nào?

Căn cứ theo Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về biện pháp cưỡng chế bằng hình thức kê biên tài sản như sau:

- Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.

- Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.

- Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc người quản lý hợp pháp hoặc người thân thích của họ bảo quản. Người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

- Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt những người:

+ Bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo;

+ Đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi có tài sản bị kê biên;

+ Người chứng kiến.

- Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản bị kê biên. Biên bản được lập theo quy định tại Điều 178 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đọc cho những người có mặt nghe và cùng ký tên. Ý kiến, khiếu nại của những người quy định tại điểm a khoản 4 Điều 128 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 liên quan đến việc kê biên được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.

- Biên bản kê biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản được giao ngay cho người được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 128 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sau khi kê biên xong, một bản giao ngay cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi có tài sản bị kê biên, một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.

Logo Thư viện Pháp luật
Lê Nguyễn Minh Khanh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự thế nào?

Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Bài viết mới nhất