Từ 01/7/2026, cán bộ công chức gây lãng phí xác định và bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc nào?

16:30 | 13/07/2026
Cán bộ công chức gây lãng phí xác định và bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc nào từ 01/7/2026? Cách xác định thiệt hại đối với hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước?
Nội dung chính
  1. Từ 01/7/2026, cán bộ công chức gây lãng phí xác định và bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc nào?
  2. Cách xác định thiệt hại đối với hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước từ 01/7/2026 ra sao?

Từ 01/7/2026, cán bộ công chức gây lãng phí xác định và bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc nào?

Theo Điều 3 Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định về đối tượng bị xử lý kỷ luật, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí như sau:

(1) Đối tượng bị xử lý kỷ luật bao gồm:

- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách;

- Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí, hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí;

(2) Đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người thực hiện hành vi gây lãng phí gây thiệt hại.

Theo đó, tại Điều 9 Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định về nguyên tắc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại như sau:

- Thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Nghị định này là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền theo một trong các cách xác định giá trị thiệt hại quy định tại Nghị định này hoặc quy định pháp luật có liên quan, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí. Thiệt hại phải được xác định trên cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ và thể hiện tại kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

- Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế gây ra, mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có nghĩa vụ bồi thường để quyết định mức và phương thức bồi thường thiệt hại; bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.

- Trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ lỗi, trách nhiệm và vi phạm của từng người có hành vi vi phạm, bảo đảm khách quan, công bằng, công khai và phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm. Trường hợp không có căn cứ xác định được mức độ trách nhiệm và vi phạm của từng người thì trách nhiệm bồi thường được chia đều cho từng người.

- Việc xác định giá trị thiệt hại trong các vụ án hình sự thực hiện theo quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các quy định pháp luật có liên quan.

- Trường hợp pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật chuyên ngành trong từng lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí có quy định về phương pháp xác định giá trị thiệt hại hoặc biện pháp khắc phục hậu quả có tính chất tương tự thì cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán căn cứ quy định pháp luật đó để xác định giá trị thiệt hại khi thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

- Khi có đủ căn cứ xác định hành vi gây lãng phí và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 9 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán có thể sử dụng một hoặc một số cách xác định thiệt hại quy định tại các Điều 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 Nghị định 267/2026/NĐ-CP để xác định giá trị thiệt hại tương ứng với hậu quả của hành vi gây lãng phí.

Từ 01/7/2026, cán bộ công chức gây lãng phí xác định và bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc nào?

Cách xác định thiệt hại đối với hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước từ 01/7/2026 ra sao?

Theo Điều 10 Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định về thiệt hại đối với hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước được xác định theo một trong các cách sau:

- Số kinh phí bổ sung so với dự toán, tổng mức đầu tư hoặc mức kinh phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra. Khi xác định thiệt hại phải loại trừ phần chi phí phát sinh do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, biến động giá nguyên vật liệu, thay đổi chính sách pháp luật, điều chỉnh quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc nguyên nhân khác không thuộc lỗi của người bị xem xét trách nhiệm.

- Toàn bộ kinh phí ngân sách nhà nước đã chi khi thực hiện văn bản được ban hành trái chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Lưu ý:

- Đối với các hành vi vi phạm được xem xét, xử lý trước ngày Nghị định 267/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì tiếp tục áp dụng quy định của pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm để xử lý.

Đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định 267/2026/NĐ-CP có hiệu lực nhưng việc xem xét, xử lý sau ngày Nghị định 267/2026/NĐ-CP có hiệu lực thì áp dụng quy định của Nghị định 267/2026/NĐ-CP hoặc quy định của pháp luật ở thời điểm xảy ra vi phạm nếu có lợi cho cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật.

- Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại đang được Hội đồng xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại xem xét, xử lý trước ngày Nghị định 267/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì tiếp tục áp dụng quy định của pháp luật tại thời điểm xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Nguyễn Ngọc Trầm
Nguyễn Ngọc Trầm Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Vi phạm hành chính Xem thêm

Doanh nghiệp cài phần mềm theo dõi máy tính của người lao động mà không thông báo bị phạt đến 70 triệu đồng đúng không?
Doanh nghiệp cài phần mềm theo dõi máy tính của người lao động mà không thông báo bị phạt đến 70 triệu đồng đúng không?

Theo Nghị định 330/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 19/8/2026), doanh nghiệp lắp đặt phần mềm theo dõi thiết bị tại môi trường làm việc mà không thông báo cho người lao động có thể bị phạt hành chính với mức phạt tiền lên đến 70 triệu đồng. Dưới đây là thông tin chi tiết.

Không đăng ký thay đổi tên doanh nghiệp khi tên đó xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thì bị phạt bao nhiêu từ ngày 21/07/2026?
Không đăng ký thay đổi tên doanh nghiệp khi tên đó xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thì bị phạt bao nhiêu từ ngày 21/07/2026?

Không đăng ký thay đổi tên doanh nghiệp theo yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh đối với trường hợp doanh nghiệp có tên xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp sẽ bị phạt tiền theo điểm b khoản 2 Điều 48 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Điều 4 Nghị định 288/2026/NĐ-CP.

Doanh nghiệp không nộp nội quy lao động bị phạt bao nhiêu tiền từ 10/9/2026? Thời hạn đăng ký nội quy lao động ra sao?
Doanh nghiệp không nộp nội quy lao động bị phạt bao nhiêu tiền từ 10/9/2026? Thời hạn đăng ký nội quy lao động ra sao?

Theo Nghị định 283 2026 NĐ CP, mức xử phạt hành vi không đăng ký nội quy lao động từ ngày 10/9/2026 với doanh nghiệp là từ 10 - 20 triệu đồng. Theo đó, doanh nghiệp sử dụng từ 10 NLĐ trở lên có trách nhiệm nộp hồ sơ đăng ký nội quy lao động trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành nội quy lao động.

Bài viết mới nhất