Thủ tục sáp nhập thôn, tổ dân phố theo đề xuất mới nhất 2026 của Bộ Nội vụ chi tiết thế nào?
Theo Chỉ thị 21/CT-TTg năm 2026 TẢI VỀ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Nội vụ tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và một số chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo đúng chỉ đạo của Chính phủ để ban hành trước ngày 26 tháng 5 năm 2026.
Mới đây, Bộ Nội vụ đã có bản dự thảo Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố xin lấy ý kiến ngày 19/5/2026, dự kiến thay thế Nghị định 33/2023/NĐ-CP.
TẢI VỀ TOÀN VĂN Dự thảo Nghị định về sáp nhập thôn tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách
Theo đó, tại dự thảo Nghị định, Bộ Nội vụ đề xuất thủ tục sắp xếp, tổ chức lại và giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố như sau:
(1) Trường hợp sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố để thành lập thôn, tổ dân phố mới thì Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Để sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo trình tự, thủ tục, hồ sơ quy định tại Điều 8 và trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét ban hành Nghị quyết về việc sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố để thành lập thôn, tổ dân phố mới tại kỳ họp gần nhất.
(2) Trường hợp giải thể thôn, tổ dân phố thì thực hiện như sau:
- Ủy ban nhân dân cấp xã lập Tờ trình kèm theo Danh sách các hộ gia đình thuộc thôn, tổ dân phố thực hiện giải thể;
- Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với Tờ trình về việc giải thể thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; có trách nhiệm tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân; xây dựng thành báo cáo để hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.
- Hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã gồm: Tờ trình kèm theo Danh sách các hộ gia đình thuộc thôn, tổ dân phố thực hiện giải thể và Báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.
- Trên cơ sở hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét ban hành Nghị quyết về giải thể thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
(3) Trường hợp đổi tên thôn, tổ dân phố thì thực hiện như sau
- Ủy ban nhân dân cấp xã lập Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố (phương án cần nêu rõ lý do của việc đổi tên thôn, tổ dân phố; tên của thôn, tổ dân phố sau khi đổi tên...);
- Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và có có trách nhiệm tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân; xây dựng thành báo cáo để hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.
- Hồ sơ đổi tên, thôn, tổ dân phố gồm: Tờ trình và Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố và Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân;
- Trên cơ sở hồ sơ của Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết về đổi tên, thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
(4) Tại nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng hồ sơ sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố và quyết định việc sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; việc giải thể giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn.
Ngoài ra, về tiêu chí của thôn, tổ dân phố, Bộ Nội vụ đề xuất cụ thể tại từng vùng như sau:
(1) Quy mô số hộ gia đình
- Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng Trung du và Miền núi phía Bắc: thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên;
- Ở vùng Đồng bằng sông Hồng: thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng Bắc Trung bộ: thôn phải có từ 350 hộ trở gia đình lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, TDP phải có từ 500 hộ gia đình trở lên. Riêng các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk: thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng Đông Nam bộ thôn phải có từ 400 hộ trở lên, Tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên;
- Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thôn phải có từ 400 hộ trở lên, TDP phải có từ 550 hộ trở lên.
(2) Quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù
Trường hợp ở địa bàn biên giới, hải đảo cách xa đất liền, do việc di dân hoặc để bảo vệ đường biên giới, chủ quyền biển đảo; thôn, tổ dân phố ở các địa bàn có yếu tố đặc thù khác (ở nơi có địa hình bị chia cắt phức tạp; nằm biệt lập trên các đảo, cù lao, cồn trên sông…) thì quy mô thôn, tổ dân phố có thể thấp hơn quy định tại (1). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể quy mô số hộ gia đình đối với các thôn, tổ dân phố quy định tại khoản này phù hợp với điều kiện của từng địa bàn.
(3) Các tiêu chí khác
Thôn, tổ dân phố phải có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để phục vụ hoạt động cộng đồng và bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân.
(*) Lưu ý: Quy định về thủ tục sáp nhập thôn, tổ dân phố nêu trên hiện mới đang được đề xuất tại dự thảo Nghị định lấy ý kiến. Do đó, nội dung này vẫn cần chờ cơ quan có thẩm quyền chính thức thông qua và ban hành.

Thủ tục sáp nhập thôn, tổ dân phố mới nhất 2026 (đề xuất) chi tiết thế nào? (Hình từ Internet)
Điều kiện sáp nhập thôn, tổ dân phố theo quy định hiện hành thế nào?
Hiện hành, việc sáp nhập thôn, tổ dân phố phải bảo đảm đáp ứng điều kiện theo Điều 7a Thông tư 04/2012/TT-BNV (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4, 5 Điều 1 Thông tư 14/2018/TT-BNV), cụ thể:
(1) Trường hợp sáp nhập thôn, tổ dân phố - Đối với các thôn, tổ dân phố có quy mô số hộ gia đình dưới 50% quy mô số hộ gia đình quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư 04/2012/TT-BNV được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Thông tư 14/2018/TT-BNV thì phải sáp nhập với thôn, tổ dân phố liền kề; - Đối với các thôn, tổ dân phố đạt từ 50% quy mô số hộ gia đình trở lên theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư 04/2012/TT-BNV được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Thông tư 14/2018/TT-BNV ở những nơi có đủ điều kiện thì thực hiện sáp nhập; - Trong quá trình thực hiện sáp nhập thôn, tổ dân phố cần xem xét đến các yếu tố đặc thù về vị trí địa lý, địa hình và phong tục tập quán của cộng đồng dân cư tại địa phương; - Đề án sáp nhập thôn, tổ dân phố phải được trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình của từng thôn, tổ dân phố sáp nhập tán thành. (2) Trường hợp giải thể thôn, tổ dân phố do Nhà nước thu hồi đất để giải phóng mặt bằng hoặc do sắp xếp, ổn định dân cư và các trường hợp khác được cấp có thẩm quyền quyết định thì việc di dân, bố trí dân cư và giải quyết các vấn đề liên quan khác được thực hiện theo Phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư hoặc Đề án sắp xếp, ổn định dân cư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. (3) Tên của thôn, tổ dân phố do thành lập mới hoặc sáp nhập không được trùng với tên của thôn, tổ dân phố hiện có trong cùng một đơn vị hành chính cấp xã; (4) Việc đổi tên thôn, tổ dân phố được thực hiện theo nguyện vọng của nhân dân sinh sống tại thôn, tổ dân phố. |
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];