Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9331:2012 Vi sinh vật trong thực phẩm - thử nghiệm thành thạo

Số hiệu: TCVN9331:2012 Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
Nơi ban hành: *** Người ký: ***
Ngày ban hành: Năm 2012 Ngày hiệu lực:
ICS:07.100.30 Tình trạng: Đã biết

TIÊU CHUẨN QUỐC GIA

TCVN 9331 : 2012

ISO/TS 22117 : 2010

VI SINH VẬT TRONG THỰC PHẨM VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI - HƯỚNG DẪN VÀ CÁC YÊU CẦU CỤ THỂ VỀ THỬ NGHIỆM THÀNH THẠO THÔNG QUA SO SÁNH LIÊN PHÒNG THỬ NGHIỆM

Microbiology of food and animal feeding stuffs - Specific requirements and guidance for proficiency testing by interlaboratory comparison

Lời nói đầu

TCVN 9331:2012 hoàn toàn tương đương với ISO/TS 22117:2010;

TCVN 9331:2012 do Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia biên soạn, Bộ Y tế đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

Lời giới thiệu

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Chương trình thử nghiệm thành thạo cho phòng thử nghiệm vi sinh chủ yếu được sử dụng để đánh giá kỹ năng phân tích, đặc biệt là độ đúng (độ chệch) và trong một vài trường hợp là độ chụm, của các phép thử vi sinh thực phẩm trong các phòng thử nghiệm cụ thể.

Ngoài ra, dữ liệu từ các chương trình PT này có thể được sử dụng:

a) để cung cấp thông tin cho các tổ chức có trách nhiệm về chấp nhận phòng thử nghiệm trong một hoạt động kiểm tra chính thức và cho phép kiểm soát liên tục;

b) để hỗ trợ việc công nhận phòng thử nghiệm trong một hệ thống quản lý chất lượng chung;

c) để thông báo cho những người có trách nhiệm về chất lượng của các phòng thử nghiệm như là một phần của các yếu tố đào tạo từ đánh giá bên ngoài về độ đúng.

Thông tin từ các chương trình PT cũng có thể được sử dụng để:

1) nhận dạng các nguồn sai lỗi có thể, đặc biệt là thành phần độ chệch của độ không đảm bảo đo, để cải thiện kỹ năng phân tích;

2) ước lượng độ không đảm bảo đo cho các phương pháp định lượng (xem ISO/IEC 19036[6]) và giới hạn phát hiện của các phương pháp định tính;

3) chứng minh năng lực của nhân viên thử nghiệm trong thực hiện một phép thử vi sinh cụ thể;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5) nhận dạng sự sai khác giữa các phòng thử nghiệm riêng rẽ;

6) ấn định một giá trị “đích” cho một đối tượng phân tích trong một vật liệu thử để thiết lập chất chuẩn.

Tuy nhiên, những khía cạnh này không được đề cập cụ thể trong tiêu chuẩn này.

Do đó, các chương trình thử nghiệm thành thạo được tổ chức để đáp ứng một số yêu cầu và chương trình thử nghiệm (tần suất, số lượng mẫu, số lần lặp lại...) cần đáp ứng các yêu cầu của phương pháp được sử dụng và hàng hóa được phân tích và để đạt được mức kiểm soát mà các bên liên quan mong muốn.

 

VI SINH VẬT TRONG THỰC PHẨM VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI - HƯỚNG DẪN VÀ CÁC YÊU CẦU CỤ THỂ VỀ THỬ NGHIỆM THÀNH THẠO THÔNG QUA SO SÁNH LIÊN PHÒNG THỬ NGHIỆM

Microbiology of food and animal feeding stuffs - Specific requirements and guidance for proficiency testing by interlaboratory comparison

1. Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn này đưa ra các yêu cầu và hướng dẫn đối với việc tổ chức các chương trình thử nghiệm thành thạo về kiểm tra vi sinh vật trong:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) thức ăn chăn nuôi;

c) môi trường sản xuất, chế biến và bảo quản thực phẩm;

d) các công đoạn đầu của dây chuyền sản xuất.

Tiêu chuẩn này cũng có thể áp dụng cho kiểm tra vi sinh trong nước khi nước được sử dụng trong quá trình sản xuất thực phẩm hoặc khi nước được coi là một loại thực phẩm theo quy định pháp luật.

Tiêu chuẩn này có liên quan đến tổ chức kỹ thuật và thực hiện chương trình thử nghiệm thành thạo, cũng như xử lý thống kê các kết quả kiểm tra vi sinh.

Tiêu chuẩn này được thiết kế để sử dụng cùng với TCVN ISO/IEC 17043 và ISO 13528, và chỉ liên quan đến các lĩnh vực trong đó cần có các chi tiết cụ thể hoặc bổ sung đối với các chương trình thử nghiệm thành thạo về phân tích vi sinh như được nêu ở trên.

2. Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu có).

TCVN 6910-1 (ISO 5725-1) Độ chính xác (độ đúng và độ chụm) của phương pháp đo và kết quả đo - Phần 1: Nguyên tắc và định nghĩa chung.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

TCVN 6404 (ISO 7218) Vi sinh vật trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi - Yêu cầu chung và hướng dẫn kiểm tra vi sinh vật

TCVN 8244-1 (ISO 3534-1) Thống kê học - Từ vựng và ký hiệu - Phần 1: Thuật ngữ chung về thống kê và thuật ngữ dùng trong xác suất

TCVN 8244-2 (ISO 3534-2) Thống kê học - Từ vựng và ký hiệu - Phần 2: Thống kê ứng dụng

TCVN ISO/IEC 17043:2011 Đánh giá sự phù hợp - Yêu cầu chung đối với thử nghiệm thành thạo

ISO 13528 Statistical methods for use in proficiency testing by interlaboratory comparisons (Các phương pháp thống kê sử dụng trong thử nghiệm thành thạo thông qua so sánh liên phòng thử nghiệm)

3. Thuật ngữ và định nghĩa

Trong tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa trong TCVN 8244-1 (ISO 3534-1), TCVN 8244-2 (ISO 3534-2), TCVN 6910-1 (ISO 5725-1), TCVN 6910-5 (ISO 5725-5), ISO 13528, TCVN ISO/IEC 17043 cùng với các thuật ngữ và định nghĩa sau:

CHÚ THÍCH 1: Một số thuật ngữ được sử dụng trong tiêu chuẩn này có nghĩa khác trong thống kê và vi sinh vật học, ví dụ tính đồng nhất, tính không đồng nhất, phép thử, mẫu, sự phân bố. Nội dung tiêu chuẩn sẽ chỉ rõ có hay không các thuật ngữ chỉ mẫu thử vi sinh hoặc các tập hợp dữ liệu được sử dụng cho phân tích thống kê.

CHÚ THÍCH 2: Một số nhà cung cấp thử nghiệm thành thạo sử dụng thuật ngữ đánh giá chất lượng bên ngoài (EQA) để đề cập đến các chương trình với nghĩa rộng hơn cho tất cả lĩnh vực hoạt động của một phòng thử nghiệm và một vấn đề được đào tạo cụ thể. Các yêu cầu của tiêu chuẩn này bao trùm các hoạt động EQA đáp ứng định nghĩa về thử nghiệm thành thạo.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Vi sinh vật được chỉ định phân tích trong một mẫu thử nghiệm thành thạo.

3.2. Vi sinh vật nền (background flora)

Hệ vi sinh vật có trong một mẫu thử nghiệm thành thạo, có thể được đưa vào để cạnh tranh hoặc gây nhầm lẫn với vi sinh vật đích.

3.3. Chủng đối chứng (reference strain)

Vi sinh vật thu được trực tiếp từ một bộ sưu tập chủng chính thức và được xác định ít nhất đến mức chi và loài, được phân loại và mô tả theo các đặc trưng của chúng và tốt nhất là có nguồn gốc từ thực phẩm hoặc nước, nếu có thể.

(TCVN 8128-1:2009 (ISO/TS 11133-1:2009)[3], 3.3.2]

3.4. Tỉ lệ thu hồi (recovery percentage)

Tỉ lệ từ giá trị ấn định của vi sinh vật đích được thu hồi bởi đơn vị tham gia.

CHÚ THÍCH 1: Tỉ lệ thu hồi được tính bằng cách nhân số đơn vị hình thành khuẩn lạc (cfu) thu hồi được trên một đơn vị thể tích hoặc khối lượng với 100.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. Thiết kế và mục tiêu của chương trình

4.1. Yêu cầu chung

Yêu cầu chung về thiết kế các chương trình PT đã được nêu trong TCVN ISO/IEC 17043; trong tiêu chuẩn này chỉ đề cập đến những khía cạnh yêu cầu xem xét đặc biệt đối với các chương trình PT về vi sinh vật trong nội dung của những nguyên tắc chung này.

4.2. Mục tiêu của chương trình

Mục tiêu cơ bản của mọi chương trình PT là cung cấp thông tin cho phép các phòng thử nghiệm tin tưởng vào độ tin cậy của kết quả phân tích của mình.

Các yêu cầu chi tiết về một kế hoạch được lập thành văn bản cho chương trình PT đã được đề cập trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.1.3 và kế hoạch này cũng cần bao gồm việc tham chiếu các quy định liên quan. Ví dụ về kế hoạch cho chương trình thử nghiệm vi sinh thực phẩm điển hình được nêu trong Phụ lục A.

Các nghiên cứu cần thiết để lập một chương trình PT mới thì rất rộng và phải được xác định rõ trong mục tiêu của chương trình. Những nội dung này tối thiểu cần bao gồm các yêu cầu được nêu trong Điều 5. Các yêu cầu đối với việc kiểm tra các đợt thử nghiệm riêng rẽ, bao gồm thử độ đồng nhất và độ ổn định, cũng cần được thiết lập khi thiết kế chương trình và phải phù hợp với các mục tiêu của chương trình.

4.3. Yêu cầu về phòng thử nghiệm tham gia chương trình

Các yêu cầu chung về trang thiết bị phòng thử nghiệm thích hợp để xử lý tất cả các khía cạnh của chương trình PT được nêu trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.3.1 và các yêu cầu an toàn được đề cập trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.6.2.4.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4.4. Lựa chọn các nền mẫu

Những yêu cầu chung về viện dẫn các nền mẫu thử trong kế hoạch chương trình được nêu trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.1.3 và chọn lựa nền mẫu phản ánh các dạng mẫu thường gặp trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.2.3.

Những lý do để lựa chọn một nền mẫu cần được công bố, ví dụ: để cung cấp mức độ ổn định và đồng nhất của mẫu phù hợp với mục tiêu đã định của chương trình.

Khi mô tả các nội dung thử nghiệm phải chỉ rõ nền mẫu (tự nhiên hoặc nhân tạo); vi sinh vật nhiễm tự nhiên hay nhân tạo; nguồn chủng và xuất xứ nhằm tuân thủ quy định vận chuyển quốc tế; và bất kỳ phương pháp bảo quản nào được sử dụng, ví dụ: đông khô, thổi khô.

4.5. Thông tin về phương pháp thử được nhà cung cấp PT sử dụng

Các yêu cầu chung đối phương pháp được nhà cung cấp PT sử dụng được nêu trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.1.3.

Nếu chương trình đặt mục tiêu là một hoặc nhiều phép thử đã được cụ thể hóa hoặc được yêu cầu trong các quy định, các phép thử thông dụng để kiểm soát chất lượng trên mẫu thử nghiệm thành thạo (ví dụ độ đồng nhất và độ ổn định) phải được thực hiện theo các phương pháp chỉ định trong quy định đó và phải công bố điều này (xem TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.5.1).

Các đơn vị tham gia phải được khuyến khích sử dụng phương pháp thông dụng của phòng thử nghiệm nhưng khi họ tiến hành các phép thử theo quy định thì phải đưa ra hướng dẫn ở mức độ nhất định, ví dụ: viện dẫn các phương pháp ISO, các văn bản pháp quy hoặc các ấn bản đã được bình duyệt (TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.5.1).

4.6. Thiết kế thống kê

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Một bản mô tả thiết kế thống kê cho chương trình PT về vi sinh phải chỉ ra rằng các phân tích thống kê được sử dung chịu ảnh hưởng từ mức độ đồng nhất của vật liệu thử, mà chính mức độ đồng nhất này cũng bị tác động bởi các biến ngẫu nhiên trong phân bố của các vi sinh vật.

Ngoại trừ số lượng nhỏ, một phân bố chuẩn theo hàm log thường được kỳ vọng trong dữ liệu phân tích định lượng và các phương pháp phân tích thống kê thích hợp phải được ứng dụng cho dữ liệu này [TCVN ISO/IEC 17043:2011, B.3.1.4d)]. Khi số lượng vi sinh vật thấp được yêu cầu trong các phép thử định lượng (ví dụ: trong kiểm tra mẫu nước hoặc đồ uống) thì áp dụng phân bố Poisson thích hợp hơn do độ biến thiên về số lượng vi sinh vật giữa các đơn vị khác nhau của vật liệu thử trở nên khá lớn và có thể che khuất độ biến thiên trong kĩ năng thao tác.

Độ đồng nhất của mẫu thông thường phải ở mức không gây ảnh hưởng đáng kể đến sự sai khác nhận thấy được giữa các phòng thử nghiệm.

Các phép thử bán định lượng và các phép thử phát hiện định tính cần đến các phương pháp thống kê khác nhau để phân tích dữ liệu và các phương pháp này được xem xét kỹ hơn trong 8.3 và 8.4.

Kế hoạch chương trình PT cần phân biệt rõ giữa các thử nghiệm thành thạo đối với phương pháp phát hiện và các thử nghiệm thành thạo đối với định lượng các vi sinh vật đích.

5. Yêu cầu kĩ thuật và hướng dẫn thiết kế mẫu và thành phần mẫu

5.1. Mật độ vi sinh vật đích

Vi sinh vật đích phải được cung cấp ở các mức phù hợp để cho thấy rằng các phương pháp kiểm tra thích hợp với mục đích sử dụng và để phản ánh mức nhiễm thường tìm thấy trong các dạng nền mẫu được thử (TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.2.3). Khi các vi sinh vật gây bệnh là vi sinh vật đích thì các mức nhiễm cũng cần tính đến và phản ánh mức độ có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của người, cũng như mọi giới hạn được quy định trong tiêu chuẩn vi sinh, nếu cần.

CHÚ THÍCH: Mức nhiễm gây hại cho sức khỏe con người không phải luôn luôn được biết chính xác và phụ thuộc vào độ mẫn cảm của từng cá nhân. Mục đích của việc kiểm tra vi sinh gây bệnh là để ngăn ngừa bệnh tật và cũng để phát hiện các yếu tố gây bệnh ở mức rất thấp trước khi chúng có thể tăng trưởng lên mức cao hơn.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Đối với các phương pháp định tính (phát hiện), các vi sinh vật đích nhìn chung được yêu cầu ở một mức thấp vừa đủ cho một thử thách có căn cứ về phương pháp luận và đóng góp dữ liệu cho hoạt động thẩm định nhằm thiết lập hoặc thẩm tra các giới hạn phát hiện của từng phòng thử nghiệm tham gia.

5.2. Nguồn gốc, đặc tính và khả năng truy xuất của các chủng vi sinh vật

Các đặc tính của vi sinh vật đích phải được thiết lập trước khi sử dụng để đánh giá kỹ năng một cách đáng tin cậy, đặc biệt trong các chương trình cho phép các đơn vị tham gia sử dụng các phương pháp luận khác nhau.

Cả chủng điển hình và không điển hình đều cần xem xét và đưa vào chương trình để thử thách kỹ năng phân tích của phòng thử nghiệm.

Những chủng đối chứng được các bảo tàng chủng quốc tế công nhận nên được sử dụng trong trường hợp chúng là phù hợp nhất cho mục đích của chương trình; tuy nhiên, các chủng do phòng thử nghiệm phân lập hoặc các chủng “hoang dại” được phân lập từ các nền mẫu sử dụng trong các chương trình PT cũng hữu ích để làm cho mẫu gần với thực trạng hơn. Khi các chủng này được sử dụng, chúng cần được mô tả đủ đặc điểm theo các phương pháp chuẩn thích hợp để đảm bảo rằng bất kỳ phản ứng không điển hình nào đều được đơn vị tổ chức PT nhận biết trước khi sử dụng.

Trong tất cả các trường hợp, các vi sinh vật được sử dụng trong các mẫu của chương trình PT cần có khả năng truy xuất đến bảo tàng chủng tương ứng hoặc được nhà tổ chức chương trình xác nhận dữ liệu mô tả đặc điểm.

Trong một vài trường hợp, không thể sử dụng các chủng đối chứng hoặc các mẫu chuẩn từ nguồn chuẩn quốc tế đã biết hoặc các chủng do phòng thử nghiệm nuôi cấy, ví dụ chương trình PT đối với các vi sinh vật không thể nuôi cấy như các norovirus ở người. Trong những trường hợp này, vật phẩm y tế có thể được dùng để gây nhiễm nhân tạo lên một nền mẫu kiểm tra, bằng cách nhúng, phun, hoặc thông qua sự tích lũy sinh học ở nhuyễn thể hai mảnh vỏ. Phương pháp gây nhiễm nhân tạo phải càng gần với con đường lây nhiễm tự nhiên càng tốt. Cần hết sức thận trọng khi thao tác với mẫu bệnh phẩm ở người, phân hoặc các mẫu dịch nôn và các mẫu này phải được sàng lọc tác nhân gây bệnh phụ trước khi sử dụng. Các vi rút đích cần được mô tả đầy đủ ở mức độ dòng bằng kỹ thuật PCR cổ điển kèm theo giải trình tự gen.

5.3. Hệ vi sinh vật nền và cạnh tranh

Tổng hệ vi sinh vật của mẫu thử, do nhiễm tự nhiên hoặc nhân tạo, phải được lựa chọn để đánh giá năng lực của các đơn vị tham gia trong việc phát hiện và/hoặc định lượng vi sinh vật đích trong sự hiện diện của hệ vi sinh vật nền không phải đích (điển hình cho loại mẫu thử) và các vi sinh vật giả đích, mà nếu thiếu các phép thử khẳng định thích hợp có thể dẫn đến các kết quả dương tính giả.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5.4. Lựa chọn nền mẫu và các ảnh hưởng

Tất cả nền mẫu phải được đánh giá trước khi sử dụng để kiểm tra các tác động đến vi sinh vật đích và hệ vi sinh nền, ví dụ nền mẫu làm giảm độ thu hồi các vi sinh đích được đưa vào gây nhiễm.

Các đơn vị tham gia phải được cảnh báo về bản chất của nền mẫu thực phẩm khi biết những nền mẫu này có ảnh hưởng bất lợi đến độ thu hồi các vi sinh vật (ví dụ: các nền mẫu bắt và giữ lại các tế bào, chẳng hạn như chất béo) hoặc có chất diệt khuẩn hay có chất tính chất kìm hãm vi khuẩn. Thông tin gửi đến các đơn vị tham gia phải bao gồm các quy trình chuẩn bị thích hợp và được thẩm định.

Những nền mẫu được sử dụng cho các chương trình PT về vi sinh thông thường (nhưng không cần thiết) được tiệt trùng trước khi dùng. Khi gửi các mẫu tự nhiên không tiệt trùng, nhà tổ chức phải xác định ảnh hưởng của hệ vi sinh nền trong mẫu.

6. Xác nhận giá trị của mẫu bởi nhà cung cấp

6.1. Yêu cầu chung

Những yêu cầu chung về kiểm tra, xác nhận giá trị mẫu được nêu trong TCVN ISO/IEC 17043 và ISO 13528 (xem thêm Tài liệu tham khảo [9]); phần này mở rộng các yêu cầu cụ thể và những trở ngại đối với việc thử độ ổn định và độ đồng nhất của vật liệu thử có chứa vi sinh vật sống.

6.2. Thử độ đồng nhất - Xem xét tổng quan

(Xem thêm TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.3 và B.5)

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Dù sử dụng phương pháp chuẩn bị nào thì vật liệu thử cũng phải được đánh giá về độ đồng nhất, thường là trước cũng như vào cùng thời điểm thử đối với các loại vật liệu tươi, không bền vững.

Phép thử độ đồng nhất cần được thực hiện đổi với mỗi mẻ mẫu, dựa trên các nguyên tắc thống kê thích hợp (TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.3.2 và B.5). Các phép thử như vậy được nêu trong ISO 13528 hoặc trong Phụ lục B.

Cũng cần kiểm tra độ đồng nhất nếu các vật liệu được lưu trong khoảng thời gian dài để đảm bảo vẫn đáp ứng các chuẩn mực đã định trước khi sử dụng. Số mẫu được kiểm tra từ mỗi mẻ chuẩn bị cần phải đủ để thu được các thông tin thực tế về độ đồng nhất của mẻ mẫu đó; số lượng đề xuất là 10 mẫu (được thử kép, nếu cần).

Một vật liệu thử kém đồng nhất vẫn có thể được sử dụng cho một đợt thử nghiệm thành thạo (TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.3.1, Chú thích 3), miễn là các nguyên tắc thống kê thích hợp được áp dụng để tính đến phương sai lớn hơn giữa các mẫu (xem ISO 13528). Một phương án thống kê đối với các vật liệu không đồng nhất bao gồm cả phép phân tích lặp lại một vài mẫu thử [xem TCVN 6910-5 (ISO 5725-5)] nên được sử dụng để giảm thiểu ảnh hưởng từ mẫu thiếu đồng nhất khi đánh giá kỹ năng phân tích của các đơn vị tham gia.

6.3.Thử độ đồng nhát đối với các mẫu định lượng

Các yêu cầu chung và quy trình kiểm tra độ đồng nhất của mẫu thử thành thạo định lượng được nêu trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.3, B.5 và ISO 13528.

Các vật liệu cho thấy sự khác nhau giữa các đơn vị mẫu đủ lớn để gây ảnh hưởng đáng kể lên việc đánh giá kĩ năng phân tích của phòng thử nghiệm thì không nên sử dụng trong các nghiên cứu liên phòng thử nghiệm trừ khi có các yêu cầu và các phương pháp phân tích dữ liệu đặc biệt áp dụng, ví dụ số lượng thấp vi sinh vật trong nước uống và các dạng mẫu khác.

Chuẩn mực về “đủ đồng nhất” được xác định bởi các yêu cầu so sánh liên phòng (xem ISO 13528 và Phụ lục B). Tuy nhiên, nhìn chung một vật liệu mà có độ lệch chuẩn giữa các đơn vị mẫu (trên thang chuyển thích hợp) ≤ 0,3 sp, trong đó sp là độ lệch chuẩn đích được sử dụng để đánh giá kĩ năng phân tích của các phòng thử nghiệm, thì được coi là đủ đồng nhất (xem ISO 13528).

Mọi phép thử khác về độ đồng nhất cần đáp ứng những tiêu chí dưới đây (theo Tài liệu tham khảo [9]):

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) vật liệu thử có độ biến thiên giữa các đơn vị mẫu là 1,5 sp có xác suất bị loại bỏ lớn hơn hoặc bằng 80 %, trong đó sp là mức sai lệch chấp nhận được giữa các phòng thử nghiệm (được biểu thị theo độ lệch chuẩn mục tiêu).

Xác suất 80 % loại bỏ một vật liệu thử khi độ biến thiên giữa các đơn vị mẫu là 1,5 sp được dựa trên các nghiên cứu mô phỏng phân tích kép 10 đơn vị mẫu thử sử dụng một phương pháp có độ lệch chuẩn phân tích là 0,5 sp (nghĩa là 0,125 đơn vị log) và một giá trị tới hạn đối với T2 (xem Phụ lục B) đáp ứng tiêu chí a) nêu trên. Điều này thể hiện kết quả đạt được với nỗ lực phân tích hợp lý.

Các phép thử độ đồng nhất dựa trên cơ sở ước lượng phương sai giữa các đơn vị mẫu và phương sai do phân tích (độ lặp lại) thu được trong các điều kiện lặp lại. Các phương pháp thử thích hợp đối với độ biến thiên như trên được nêu trong Phụ lục B.

Phương sai trong phân tích (độ lặp lại) cần được ước tính từ các phân tích kép huyền phù gốc nhận được từ các phần mẫu thử (Tài liệu tham khảo [15][16]). Phương sai phân tích này cũng có thể được tính từ số lượng khuẩn lạc được đếm và độ chụm của vật liệu thử được sử dụng (Tài liệu tham khảo [10]).

Trong vi sinh học, phương sai giữa các đơn vị mẫu phải được ước tính trong điều kiện lặp lại (trong một lần phân tích). Nếu điều này không thể tiến hành thì phương sai giữa các đơn vị mẫu bao gồm cả độ tái lập nội bộ phòng thử nghiệm và có thể dẫn đến việc loại bỏ sai một vật liệu phù hợp.

Khi số Iượng khuẩn lạc đếm được đủ lớn (nhiều hơn 35 đến 40 khuẩn lạc trong mỗi đĩa) thì độ lệch chuẩn phân tích, san, thường thỏa mãn:

trong đó sp là độ lệch chuẩn đích, và nên sử dụng phép thử độ “đồng nhất đủ" được nêu trong Tài liệu tham khảo [11] (xem Phụ lục B). Nếu số khuẩn lạc thấp (nhỏ hơn 35 đến 40 khuẩn lạc trên mỗi đĩa) thì nên dùng phép thử T1 - T2 (xem Phụ lục B).

Khi các đơn vị mẫu thử kép được cung cấp cho các phòng thử nghiệm tham gia chương trình thì khả năng biến thiên giữa các đơn vị mẫu nhận được bởi các phòng thử nghiệm cần được nhà cung cấp kiểm tra để đánh giá độ đồng nhất của vật liệu thử. Cho dù khả năng biến thiên bao gồm cả độ tái lập nội bô phòng thử nghiệm thì khi số lượng phòng thử nghiệm tham gia càng lớn sẽ làm tăng nguồn thống kê của phép phân tích này và có thể là một chỉ thị tốt cho các vòng thử nghiệm thành thạo kế tiếp.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

trong đó:

sr là độ lệch chuẩn lặp lại;

sp là độ lệch chuẩn đích;

n là số phép thử lặp.

Nếu điều kiện trên không thỏa mãn thì kĩ năng phân tích của phòng thử nghiệm cần được đánh giá thận trọng.

Khi mẫu PT chứa số lượng khuẩn lạc thấp (nhỏ hơn 20) thì phải xác định sự sai khác giữa các đơn vị mẫu (nghĩa là giữa các mẫu lặp lại) để chứng minh rằng nó không vượt quá biến ngẫu nhiên (Poisson) nhằm đưa ra một sự đánh giá có ý nghĩa. Chỉ số phép thử độ phân bố trên n mẫu (trong đó n tối thiểu là 10) không nên vượt quá giá trị  với mức xác suất 0,05.

6.4. Thử độ đồng nhất mẫu đối với các phương pháp định tính

Các nguyên tắc tương tự được áp dụng để kiểm tra độ đồng nhất mẫu dành cho phương pháp định tính (có mặt/không có), nhưng yêu cầu có các xem xét cụ thể khi mức gây nhiễm vào mẫu thấp (xem 8.4).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

6.5. Thử độ ổn định của mẫu bởi nhà cung cấp

6.5.1. Yêu cầu chung

Các mẫu dùng cho thử nghiệm liên phòng phải bền vững, ít nhất là trong suốt giai đoạn từ khi chuẩn bị (bởi nhà cung cấp) cho đến ngày phân tích hoặc đến cuối khoảng thời gian cho phép lưu giữ (xem TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.4.3).

Nếu cùng dạng mẫu với cùng loại chủng thử luôn luôn được sử dụng thì chỉ cần tiến hành một phép thẩm định (ví dụ: kiểm tra sau khi chuẩn bị mẫu và vào ngày phân tích) trên các mẫu tiếp theo là đủ. Nhà cung cấp cũng cần kiểm tra các kết quả thu được từ các phòng thử nghiệm tham gia để kiểm tra lại độ ổn định của vật liệu thử trong suốt thời gian cho phép nghiên cứu.

6.5.2. Độ ổn định trong điều kiện bảo quản

Đối với các mẫu ổn định luôn luôn được lưu ở nhiệt độ thấp (ví dụ: -70 °C, -20 °C, +5 °C) thì độ ổn định phải được xác định bằng cách kiểm tra định kì mật độ vi sinh vật và độ đồng nhất của mỗi mẻ sau các khoảng thời gian định kì trong quá trình lưu mẫu. Khoảng thời gian tối thiểu để thử độ ổn định nên là thời gian giữa giai đoạn chuẩn bị mẫu và một ngày hoặc thời điểm phân tích cụ thể.

Tần suất kiểm tra tùy thuộc vào thông tin sẵn có về mẻ mẫu và tổng thời gian cần thiết để có thông tin về độ ổn định. Ví dụ: nếu tổng thời gian lưu chỉ trong hai tuần thì có thể cần phải kiểm tra hai ngày một lần, nhưng nếu yêu cầu bảo quản trong một năm thì có thể kiểm tra hàng tháng là đủ. Đối với các mẻ mẫu lớn thì tối thiểu 3 mẫu được thử trong mỗi lần để cho thấy độ ổn định thực tế của toàn mẻ (ISO 13528:2005, Phụ lục B). Dù áp dụng tần suất kiểm tra nào thì tần suất đó cũng phải được đơn vị tổ chức chương trình chứng minh và thẩm định là chấp nhận được.

6.5.3. Độ ổn định trong điều kiện vận chuyển

Ngoài những thông tin về độ ổn định trong các điều kiện bảo quản thu thập được trong nghiên cứu thẩm định để lập chương trình PT mới, điều quan trọng không kém là kiểm tra ảnh hưởng của “các điều kiện bất thường” lên mẫu, ví dụ thời gian vận chuyển dài trong nhiệt độ cao (xem TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.6.3.2).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Thiết kế các thực nghiệm về độ ổn định có thể thay đổi nhưng cần thích hợp để nhận được thông tin về ảnh hưởng của các nhiệt độ bảo quản khác nhau lên mẫu thử và thiết lập được giới hạn trên của nhiệt độ khi phòng thử nghiệm tiếp nhận mẫu. Thông tin thu được có thể được sử dụng để lựa chọn điều kiện phân phối tối ưu cho các mẫu của chương trình PT, ví dụ: có cần làm mát mẫu trong suốt quá trình vận chuyển bằng cách sử dụng đá khô hoặc túi nước đá hay vận chuyển trong điều kiện bình thường là có thể chấp nhận được.

Khi phân phối các mẫu mẫn cảm với nhiệt độ, yêu cầu phải có hệ thống làm lạnh kiểm soát được với chuẩn mực chấp nhận mẫu nghiêm ngặt như chương trình hỗ trợ thử nghiệm mang tính pháp lý đối với E. coli trong nhuyễn thể hai mảnh vỏ, nên đưa các bộ cảm biến nhiệt vào mỗi hộp mẫu để ghi lại nhiệt độ của mẫu trong quá trình vận chuyển. Việc kiểm tra dữ liệu nhiệt độ có thể cho phép các nhà cung cấp chương trình PT giải thích các kết quả bất thường của các đơn vị tham gia.

7. Quản lý mẫu

7.1. Yêu cầu chung

Các yêu chung về quản lý mẫu thử được nêu trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.6.1 và 4.6.2, và chỉ những thông tin bổ sung liên quan đến các mẫu thử vi sinh được nêu trong phần này.

7.2. Hướng dẫn cho các đơn vị tham gia

Đối với mỗi đợt nghiên cứu, từng phòng thử nghiệm tham gia phải nhận được một bộ hướng dẫn rõ ràng bao gồm:

a) các điều kiện bảo quản cho tất cả các dạng mẫu, đặc biệt thông tin về nhiệt độ bảo quản cần được ghi rõ bên ngoài bao bì vận chuyển mẫu;

b) nhiệt độ tối đa của mẫu khi tiếp nhận tại phòng thử nghiệm, nếu cần;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

d) bảng dữ liệu an toàn thích hợp cần đưa vào trong mỗi đơn vị mẫu gửi đi (ví dụ cụ thể được nêu trong Phụ lục D);

e) những hướng dẫn bổ sung khác như:

1) thời hạn muộn nhất phải tiến hành phân tích và thời hạn gửi kết quả cho nhà tổ chức;

2) phương pháp phân tích (mô tả hoặc lựa chọn của đơn vị tham gia, nếu có yêu cầu);

3) cách thức báo cáo kết quả cho nhà tổ chức, đặc biệt là đơn vị đo;

4) nhà tổ chức có thể yêu cầu chi tiết về vật liệu, phương pháp, điều kiện nuôi cấy..., trong biểu mẫu báo cáo, nếu có, cần đưa ra các hướng dẫn để điền vào biểu mẫu này.

8. Đánh giá kĩ năng thao tác

8.1. Yêu cầu chung

Bất cứ khi nào có thể, các nguyên tắc thống kê được sử dụng để đánh giá năng lực trong chương trình PT nên dựa vào nội dung được nêu trong các tiêu chuẩn như TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.7 và ISO 13528 (xem thêm thông tin tại Tài liệu tham khảo [9]) cho dù các chương trình PT về vi sinh có thể chấp nhận các quy trình khác với quy trình thường được sử dụng trong các lĩnh vực khác nếu những quy trình này thích hợp với chương trình vi sinh cụ thể.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Thử nghiệm thành thạo liên quan đến sự phân phối định kỳ các vật liệu thử đến các phòng thử nghiệm tham gia để họ kiểm tra mẫu thử về các thông số cụ thể (trong hầu hết các trường hợp là các vi sinh vật). Kết quả kiểm tra sau đó được so sánh với kết quả của các phòng thử nghiệm khác. Do vậy, thử nghiệm thành thạo cung cấp một phương thức thử độc lập và so sánh kĩ năng của từng phòng thử nghiệm.

Việc liên tục đạt kết quả tốt qua các vòng thử nghiệm thành thạo cho thấy phòng thử nghiệm đảm bảo về phương pháp phân tích, đào tạo, trang thiết bị, thuốc thử, quy trình kiểm soát chất lượng, diễn giải kết quả và kỹ thuật báo cáo.

Tuy nhiên, những kết quả không tốt cho thấy kĩ năng phân tích của phòng thử nghiệm yếu khi so với giá trị ấn định và điều này có thể dẫn đến một số những câu hỏi như: tất cả các mẫu thử có giống nhau không; các phòng thử nghiệm khác tiến hành như thế nào, phương pháp có thể có kết quả chệch không và các kết quả đó có được diễn giải đúng không. Do đó, nhà tổ chức chương trình nên sử dụng hệ thống đánh giá kĩ năng phân tích thích hợp để giúp các bên tham gia trả lời những câu hỏi đó.

Có nhiều cách khác nhau để diễn giải dữ liệu từ chương trình thử nghiệm thành thạo nhưng các phương pháp này phải khách quan.

Phần lớn các đơn vị tham gia chương trình PT về vi sinh không quen với phép thống kê và phải tin rằng các quy trình được sử dụng bởi nhà cung cấp chương trình PT là đúng.

Những xem xét dưới đây về nguyên tắc thống kê áp dụng phải được đề cập:

a) giá trị pháp lý;

b) thông tin giải thích cho các đơn vị tham gia;

c) những lý do lựa chọn;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Các đơn vị tham gia phải được cung cấp các thông tin rõ ràng và không thiên lệch nhằm cho phép họ tự đánh giá và diễn giải kết quả và để tận dụng tối đa các lợi ích từ việc tham gia chương trình.

8.3. Phương pháp định lượng

8.3.1. Yêu cầu chung

Thiết kế thống kê cho chương trình PT đối với các phương pháp định lượng vi sinh vật bị tác động bởi mức độ đồng nhất của vật liệu thử, do đó chịu tác động bởi độ biến thiên ngẫu nhiên về phân bố vi sinh vật trong mẫu. Ngoài ra, dường như có sự khác biệt đáng kể giữa các phòng thử nghiệm tham gia về độ chụm được yêu cầu hoặc mong đợi của một phép thử.

Việc lựa chọn phương pháp thống kê phải tính đến các yếu tố được liệt kê trong 8.1 và 8.2, cùng với các xem xét khác như số lượng các phòng thử nghiệm tham gia trong một chương trình cụ thể. Những tham số đưa đến quyết định các phép thống kê nào được dùng cho phân tích kết quả cần được công bố. Ví dụ: những chương trình đặc biệt có ít hơn 30 đơn vị tham dự; kết quả từ 30 đơn vị tham dự có thể được phân tích theo phương thức khác với các chương trình lớn hơn, ví dụ có 100 đơn vị tham dự.

Phương pháp được chọn phân tích thống kê phải thích hợp không chỉ với số lượng phòng thử nghiệm tham gia một phép thử mà còn phải thích hợp với phương pháp thử được sử dụng. Ví dụ: cách phân tích kết quả từ phương pháp đếm khuẩn lạc khác so với phân tích kết quả từ phương pháp MPN. Điều này là do độ biến thiên gắn với phương pháp MPN có xu hướng lớn hơn so với phương pháp đếm khuẩn lạc. Thực tế, các tham số thống kê khác nhau có thể cần đến để đánh giá kĩ năng phân tích của phòng thử nghiệm tham gia đối với các phép thử khác nhau trong cùng một chương trình thử nghiệm (xem TCVN ISO/IEC 17043:2011, 4.5.2). Điều này phải được công bố trong tài liệu thiết kế chương trình thử nghiệm thành thạo và những tiêu chí vi sinh được chấp nhận nói chung nên được viện dẫn trong kế hoạch chương trình PT.

Những phân tích thống kê thích hợp và xác định điểm của phòng thử nghiệm tham gia được đề cập trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, Phụ lục B.

8.3.2. Sự phân bố của dữ liệu

Khi một phép thử định lượng được lặp lại vài lần trong các điều kiện lặp lại thì phân bố tần suất của các kết quả sẽ được kỳ vọng tạo thành một đường cong hình chuông, được gọi là phân bố chuẩn.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

CHÚ DẪN:

f tần số

m giá trị trung bình

s độ lệch chuẩn

Hình 1 - Đồ thị phân bố chuẩn

Cho dù tiến hành thử trên cùng một mẫu, không phải mọi kết quả đều giống nhau do có một số sai khác nhỏ, độc lập dự kiến sẽ xảy ra trong các thao tác khác nhau liên quan đến quá trình thực hiện phép thử.

Trong thử nghiệm thành thạo, thông thường các phép thử không được thực hiện trong các điều kiện lặp lại, hoặc thậm chí trong các điều kiện tái lập. Các phép thử được tiến hành bởi những người phân tích khác nhau, tại các phòng thử nghiệm khác nhau và vào những thời điểm khác nhau, dùng các thiết bị, môi trường, thuốc thử và phương pháp phân tích khác nhau và các kết quả này khác nhau nhiều hơn, có thể mô tả như là các điều kiện “siêu tái lập” hoặc “quá tái lập", vì thông thường khái niệm độ tái lập chỉ được sử dụng trong phạm vi một phương pháp đơn lẻ.

Phân bố chuẩn (log) của các kết quả thường quan sát được mặc dù có những khác biệt trong các điều kiện thử nghiệm như trên, và cần sử dụng các nguyên tắc thống kê thích hợp đối với phân bố chuẩn (log) để phân tích dữ liệu, miễn là phân bố này nhìn chung đối xứng và đồng dạng.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

8.3.3. Xác định giá trị ấn định

Mục tiêu của thử nghiệm thành thạo là đánh giá mức độ thành thạo của các bên tham gia trong quá trình đạt đến kết quả “đúng”. Tuy nhiên, trong nhiều chương trình thử nghiệm thành thạo, không thể biết được kết quả “đúng” vì nhiều người phân tích có thể kiểm tra trên cùng một vật liệu thử và sẽ đưa ra các kết quả khác nhau ít nhiều.

Thay vào đó, cần ước tính một kết quả “đúng” hay “thực” và điều này viện dẫn đến “giá trị ấn định”. Giá trị ấn định này có thể xác định được bằng một số phương pháp được nêu trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, B.2 và ISO 13528.

Phương pháp phổ biến nhất trong các chương trình thử nghiệm thành thạo vi sinh là đồng thuận giá trị từ các phòng thử nghiệm tham gia. Giá trị ấn định được xác định từ giá trị trung bình thô hoặc trung vị của các kết quả từ tất cả các bên tham gia. Việc sử dụng các phương pháp thô nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của các giá trị bất thường, để không cần loại các kết quả đó khỏi dữ liệu vì có thể khó nhận dạng các giá trị bất thường “thực sự”.

Giá trị ấn định có độ không đảm bảo cao hơn so với các phương pháp khác, nhưng điều này được tính đến khi đánh giá kĩ năng của phòng thử nghiệm. Giá trị ấn định được cho là hợp lý vì kết quả của tất cả các bên tham gia đều đóng góp vào việc tính toán.

Nếu một trung vị tổng thể thấp được tạo thành, trong khi giá trị ấn định được thiết lập từ giá trị đồng thuận (ví dụ: do có nhiều đơn vị tham gia khó phân lập hoặc khó nhận dạng một vi sinh vật cụ thể nào đó), các nhà tổ chức chương trình cần đưa ra nhận xét hợp lý để kỹ năng của các phòng thử nghiệm không có kết quả giả được đánh giá chính xác.

8.3.4. Độ không đảm bảo đo của giá trị ấn định

Giá trị ấn định thể hiện giá trị ước tính tốt nhất của giá trị “thực”. Có một độ không đảm bảo đo chuẩn biểu thị mức tin cậy trong giá trị ước tính này. Nếu độ không đảm bảo đo chuẩn của giá trị ấn định quá lớn so với độ lệch chuẩn của đợt thử thành thạo thì sau đó một vài phòng thử nghiệm tham gia sẽ nhận được các đánh giá cảnh báo và hành động, không phải vì kỹ năng phân tích của họ mà do độ không đảm bảo đo lớn trong giá trị ấn định.

Vì vậy, cần thiết lập các tiêu chí chấp nhận một giá trị ấn định theo độ không đảm bảo đo của nó. Một vài phương pháp để ước tính độ không đảm bảo đo này và xác định khả năng chấp nhận đã có sẵn và được mô tả trong ISO 13528.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Nhà tổ chức chương trình PT phải xác định giá trị ấn định và đánh giá kết quả từ mỗi phòng thử nghiệm lệch bao nhiêu khi so giá trị ấn định với kết quả từ tất cả các phòng thử nghiệm tham gia khác. Như vậy, kỹ năng phân tích của từng đơn vị tham gia được xem xét không dựa trên kết quả “đúng" mà dựa trên ước tính thống kê của kết quả “đúng” từ tất cả số liệu báo cáo thu được. Lượng dữ liệu càng lớn thì các ước tính thống kê dường như càng chính xác hơn.

Các phương pháp chung về đánh giá kỹ năng và tính điểm được nêu chi tiết trong TCVN ISO/IEC 17043:2011, B.3 và ISO 13528.

8.3.6. Sử dụng chỉ số z

8.3.6.1. Yêu cầu chung

Một phương pháp thông dụng và được chấp nhận rộng rãi trong thử nghiệm thành thạo là hệ thống chỉ số z (z-score), do hệ thống này tương đối dễ tính toán và diễn giải (xem TCVN ISO/IEC 17043:2011, B.3). Chỉ số z cho biết chênh lệch giữa một giá trị nào đó so với giá trị trung bình bằng bao nhiêu lần độ lệch chuẩn, ví dụ chỉ số z bằng 2 thể hiện chênh lệch giữa một giá trị so với giá trị trung bình là 2s, trong đó s là độ lệch chuẩn.

Như được mô tả trong Hình 1, dữ liệu với phân bố chuẩn có 95 % các giá trị nằm trong 2s kể từ giá trị trung bình và 99,7 % các giá trị nằm trong phạm vi 3s. Do đó, các kết quả với chỉ số z lớn hơn 2 nên được xem xét nguyên nhân bởi chỉ có 5 % giá trị đo đúng được dự kiến sai lệch với giá trị ấn định. Các kết quả với chỉ số z lớn hơn 3 được coi là không thỏa mãn do chỉ có 0,3 % giá trị đo đúng được dự kiến khác với giá trị ấn định (xem TCVN ISO/IEC 17043:2011, B.4).

8.3.6.2. Độ lệch chuẩn đích cho tính toán chỉ số z

Việc tính chỉ số z sử dụng một giá trị đích của độ lệch chuẩn. Độ lệch chuẩn đích định rõ khoảng biến thiên có thể chấp nhận giữa các phòng thử nghiệm trong mỗi phép thử cụ thể. Nên sử dụng cùng một độ lệch chuẩn đích cho tất cả các đợt thử kế tiếp của chương trình thử nghiệm thành thạo để có thể so sánh chỉ số z giữa đợt này với đợt khác. Một số phương pháp thiết lập độ lệch chuẩn đích được nêu chi tiết trong Tài liệu tham khảo [9], TCVN ISO/IEC 17043:2011, B.3 và ISO 13528.

8.3.6.3. Các kết quả đa giá trị trong hệ thống chỉ số z

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Khi một phòng thử nghiệm tham gia báo cáo kết quả nhiều giá trị cho một vật liệu thử đơn lẻ thì điều này có thể gây ra độ chệch tiềm tàng đến phần dữ liệu còn lại từ các đơn vị khác. Ví dụ: nếu 10 phân tích viên của cùng một phòng thử nghiệm cùng phân tích trên một mẫu mà mẫu này được pha loãng không chính xác ngay từ đầu thì cả 10 kết quả nói trên đều sai. Số kết quả sai này trở thành một tập con trong hệ thống dữ liệu thu được và có thể làm chệch tất cả kết quả khác. Để tránh độ chệch này thì chỉ nên đưa một kết quả báo cáo duy nhất từ mỗi phòng thử nghiệm vào phân tích tổng thể về phân bố dữ liệu.

Khi một phòng thử nghiệm tham gia chương trình thu được nhiều kết quả từ một mẫu PT đơn lẻ thì các kết quả này phải được báo cáo riêng rẽ và không phải là giá trị trung bình. Khi nhà tổ chức chương trình chỉ cho phép báo cáo một kết quả cho mỗi phòng thử nghiệm thì phải chọn kết quả riêng lẻ để báo cáo trước khi tiến hành phép thử và biết được các kết quả.

8.3.7. Các phương pháp đánh giá kỹ năng khác

8.3.7.1. Yêu cầu chung

Mặc dù chỉ số z được sử dụng rất phổ biến trong đánh giá các kết quả của chương trình PT cho các phương pháp đếm, các phương pháp đánh giá khác có thể thích hợp cho các chương trình đặc biệt.

Ví dụ: với các mẫu có số lượng vi sinh thấp (như nước uống) thì các đánh giá thống kê có thể dựa trên mô hình dự đoán biến ngẫu nhiên. Khi đó các số đếm cận biên “cao” hoặc “thấp” được xác định rõ bằng cách sử dụng công thức Poisson. Các kết quả cao hoặc thấp thỉnh thoảng có thể xuất hiện ngẫu nhiên trong bất kỳ phòng thử nghiệm nào, nhưng việc có nhiều kết quả cận biên cho thấy kỹ năng phân tích kém. Các ưu điểm và nhược điểm của một mô hình so với cách tiếp cận phân vị để đánh giá thống kê được đề cập trong Tài liệu tham khảo [17].

Với các chương trình PT dự kiến có số đếm cao thì quy tắc 0,5 log10 hoặc cách tiếp cận phân vị có thể được sử dụng, nhưng cần sử dụng phương pháp độ lệch tuyệt đối trung vị cho các chương trình có ít phòng thử nghiệm tham gia. Các nội dung này được tóm lược trong 8.3.7.2 đến 8.3.7.4.

8.3.7.2. Sử dụng quy tắc 0,5 log10

Một hệ thống tính điểm dựa vào quy tắc 0,5 log10 có thể được sử dụng cho phép đếm khuẩn lạc (theo Tài liệu tham khảo [13]). Về cơ bản, khoảng tin cậy 95 % xung quanh giá trị trung bình số đếm nhìn chung không lớn hơn ± 0,5 log10 cfu. Các thủ tục kiểm soát chất lượng nội bộ đối với các phòng thử nghiệm vi sinh thường yêu cầu phép đếm lặp để thấy được sự phù hợp với mức không vượt quá 0,5 log10 đơn vị để chứng minh việc kiểm soát tốt quá trình. Hệ thống này được áp dụng cho kết quả của các bên tham gia, theo đó tất cả kết quả nằm trong phạm vi ± 0,5 log10 đơn vị từ giá trị trung vị của các bên tham gia được xem là có thể chấp nhận và được tính điểm tối đa. Quy tắc này cho phép điểm của các bên tham gia được cải thiện theo thời gian nếu xét về tổng thể chất lượng phép đếm của họ được cải tiến.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

8.3.7.3. Sử dụng phân vị

Phân vị có thể được dùng để nhận dạng các giá trị bất thường trong phép thử định lượng khi có nhiều hơn hoặc bằng 50 đơn vị tham gia tiến hành định lượng bằng cách đếm khuẩn lạc. Cách này đòi hỏi tính toán phân vị thứ 5, thứ 10, thứ 90 và thứ 95 trong phân bố kết quả của các bên tham gia (lần lượt là C5, C10, C90 và C95). C5 và C10 cần được làm tròn xuống đến giá trị 0,05 log10 đơn vị gần nhất (ví dụ: làm tròn 2,23 thành 2,20), trong khi đó C90 và C95 cần được làm tròn lên (ví dụ: làm tròn 3,36 thành 3,40). Sau đây ví dụ về cách tính điểm (như trường hợp đếm khuẩn lạc hiếu khí):

- Các kết quả nằm giữa C10 và C90 (khoảng chấp nhận):            Điểm = 2

- Các kết quả nằm giữa C5 và C10 hoặc giữa C90 và C95:          Điểm = 1

- Các kết quả nằm dưới C5 hoặc trên C95                                  Điểm = 0

Việc áp dụng quy tắc 0,5 log10 có thể mở rộng khoảng chấp nhận và do đó có thể nâng hạng điểm đã tính cho một vài kết quả trong C5, C10, C90 và C95.

Phương pháp phân vị ổn định và không phụ thuộc vào phân bố thực của số đếm logarit thập phân như với phân bố chuẩn. Nó cho phép diễn đạt rõ ràng kết quả đánh giá kỹ năng phân tích.

Nếu số lượng phòng thử nghiệm tham gia một chương trình PT ít hơn 50 hoặc số đơn vị tham gia báo cáo kết quả định lượng một thông số cụ thể ít hơn 50 thì cần sử dụng các giá trị độ lệch tuyệt đối trung vị (MAD) (xem 8.3.7.4) thay cho phân vị.

8.3.7.4. Sử dụng độ lệch tuyệt đối trung vị (MAD) từ các giá trị trung vị

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Ví dụ về cách tính điểm sử dụng các giá trị MAD được cho dưới đây:

- Các kết quả trong vùng giá trị trung vị của các bên tham gia ± 2sMAD: Điểm = 2

- Các kết quả nằm giữa ± 2sMAD và ± 2,58sMAD: Điểm = 1

- Các kết quả nằm ngoài ± 2,58sMAD: Điểm = 0

Khi sử dụng phân vị thì giới hạn dưới cần làm tròn xuống đến giá trị 0,05 log10 gần nhất và giới hạng trên cần làm tròn lên giá trị 0,05 log10 gần nhất.

Lưu ý rằng trừ khi quy tắc 0,5 log10 được áp dụng, nên có khoảng 5 % phòng thử nghiệm nằm ngoài vùng ± 2sMAD và 1 % nằm ngoài vùng ± 2,58sMAD (giả định phân bố chuẩn của số đếm logarit thập phân và không có các giá trị quá bất thường).

Phương pháp MAD nên sử dụng cho các chương trình PT mới khi có ít hơn 100 đơn vị tham gia.

8.3.7.5. Các xem xét đặc biệt đối với phương pháp đếm số có xác suất lớn nhất

Phương pháp thử được dùng để xác định giá trị MPN có độ biến thiên nội tại lớn hơn các phương pháp đếm khuẩn lạc, do đó nó thường chỉ được xem là phương pháp bán định lượng. Tuy nhiên, đôi khi cần phát hiện và ước tính mật độ vi sinh vật được dự kiến là thấp, đặc biệt khi các vi sinh vật có thể bị ức chế (ví dụ: do ảnh hưởng của quá trình xử lý hoặc làm đông lạnh). Phương pháp MPN cũng được quy định trong các văn bản pháp quy hoặc yêu cầu kiểm tra vi sinh vật đối với một vài sản phẩm như các sản phẩm từ sữa và động vật thân mềm hai mảnh vỏ và các loại thủy sản có vỏ khác.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Đối với phương pháp 3 nồng độ x 5 ống, độ lệch chuẩn của một kết quả log10 MPN là xấp xỉ 0,24, miễn là các kết quả không cho thấy các tổ hợp ống “ngoại lai”, ví dụ: các tổ hợp ống 3, 0, 0 đến 5, 5 và 2 [xem TCVN 6404 (ISO 7218)].

Đối với phương pháp 3 nồng độ x 3 ống thì độ lệch chuẩn của kết quả log10 MPN là xấp xỉ 0,32, miễn là các kết quả không cho thấy các tổ hợp ống “ngoại lai”, ví dụ tổ hợp ống 2, 0, 0 và 3, 3, 1.

Điều này có nghĩa là: trong trường hợp hoàn hảo, độ biến thiên giữa các phòng thử nghiệm không quá lớn thì 95 % kết quả cần nằm trong khoảng ± 2s và hơn 99 % nằm trong khoảng ± 3s, trong đó s là độ lệch chuẩn.

Tuy nhiên, trong thực tế sẽ có biến thiên nhất định giữa các phòng thử nghiệm. Việc phân tích một số tập hợp dữ liệu cho thấy sự thay đổi trên làm tăng phương sai khoảng 2,5 lần (và do đó làm tăng độ lệch chuẩn lên 1,58 lần).

Vì vậy giới hạn chấp nhận kết quả xác định MPN của các bên tham gia cần nâng lên thành ± 3s và ± 5s (xem Bảng 1).

Bảng 1 - Giới hạn chấp nhận

Giới hạn chấp nhận

Phương pháp 3 x 3 ống

Phương pháp 3 x 5 ống

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

± 0,96 log10 (gấp 9,1 lần)

± 0,72 log10 (gấp 5,2 lần)

± 5s

± 1,60 log10 (gấp 39,8 lần)

± 1,20 log10 (gấp 15,8 lần)

Quy tắc 0,5 log10 không nên áp dụng cho các kết quả MPN do tính biến thiên của phương pháp.

Đối với phương pháp MPN, cũng có thể kiểm tra xem các tổ hợp ống và dung dịch pha loãng được báo cáo có phù hợp với giá trị MPN có được bằng cách tra bảng [xem TCVN 6404 (ISO 7218)].

Nếu chương trình PT hoặc văn bản pháp quy yêu cầu các giá trị MPN phải được xác định song hành, các kết quả có thể được so sánh và nếu các tổ hợp ống đáng tin cậy thì chênh lệch giữa hai kết quả này không được sai khác hơn 2,58 x  x 0,24 = 0,88 đối với phương pháp 3 x 5 ống và 2,58 x  x 0,32 = 1,17 đối với phương pháp 3 x 3 ống, tính theo đơn vị logarit thập phân.

Nếu so sánh hai phân bố với hai kết quả lặp lại cho mỗi phân bố thì trung bình của hai giá trị không được sai khác hơn 2,58 x 0,24 = 0,62 đối với phương pháp 3 x 5 ống và 2,58 x 0,32 = 0,83 đối với phương pháp 3 ống x 3 nồng độ, tính theo đơn vị logarit thập phân.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

8.3.8.1. Yêu cầu chung

Đánh giá kỹ năng trong các chương trình thử nghiệm thành thạo thường bó gọn trong khuôn khổ đánh giá kết quả từ các đợt thử đơn lẻ, nhưng khi mở rộng phạm vi, việc đánh giá trong một khoảng thời gian dài hơn có thể có ích. Có một số hướng dẫn khi áp dụng kiểu đánh giá này cho các chương trình đánh giá chất lượng từ bên ngoài để hoàn thiện phương pháp.

Bất kể phương pháp nào đánh giá kỹ năng lâu dài phải đảm bảo rằng các phòng thử nghiệm thực hiện phép thử định lượng không bị nhận dạng ngẫu nhiên là có “kỹ năng kém” do số lượng vi sinh vật trong mẫu mà họ nhận được.

Các số đếm “thấp“ và “cao” cần được định rõ theo những quy tắc khách quan (ví dụ: sử dụng mô hình Poisson đối với số đếm thấp, phương pháp phân vị hoặc các phương pháp khác đối với số đếm cao), sau đó được dùng để xác định các phòng thử nghiệm có báo cáo kết quả thường xuyên hơn dự kiến hay không.

Nhà tổ chức chương trình nên khuyến khích các bên tham gia vận dụng các nhận xét chuyên môn của chính họ để đánh giá thông tin được cung cấp trong báo cáo, từ đó tự đánh giá kỹ năng của mình. Nhà tổ chức có thể gọi ý cho các bên tham gia các cách khác nhau về thực hiện tự đánh giá phòng thử nghiệm nhưng họ không nên ấn định các tiêu chí về tự đánh giá cho từng phòng thử nghiệm; tốt hơn, các tiêu chí này nên được lập ra bởi mỗi phòng thử nghiệm tham gia, dựa trên những gì họ tin là có ý nghĩa về vi sinh học xét theo công việc hằng ngày của họ và các yêu cầu của khách hàng.

8.3.8.2. Đánh giá số đếm thấp

Nếu ngẫu nhiên là yếu tố duy nhất có liên quan thì các số đếm vùng biên cần được phân bố ngẫu nhiên. Các kết quả này có thể được xem xét kỹ lưỡng để xác định độ phân tán của các kết quả vùng biên, giữa các phòng thử nghiệm qua một loạt mẫu (ví dụ: sử dụng phép thử Q theo Cochran).

Nếu chúng không phân bố ngẫu nhiên thì có thể tiến hành phân tích giai đoạn 2 để xác định phân bố dự kiến của các số đếm vùng biên trong số các phòng thử nghiệm có báo cáo số liệu này, nếu các kết quả đơn giản chỉ là do sự thay đổi tự nhiên giữa các mẫu và không do ảnh hưởng từ kỹ năng phân tích của phòng thử nghiệm. Từ đó, sự trái ngược giữa số kỳ vọng của các phòng thử nghiệm và số thực tế quan sát được đã chỉ ra các phòng thử nghiệm có thể có vấn đề về kinh nghiệm. Ví dụ về đánh giá kỹ năng phân tích đối với mẫu có số lượng vi sinh thấp được nêu trong Bảng 2.

Bảng 2 - Các số kỳ vọng và quan sát được của tập hợp các kết quả giả định phân bố ngẫu nhiên của các kết quả thấp (từ một phân bố của mức mật độ thấp Clostridium perfringens trong các mẫu nước uống, khi mà biến thiên về số lượng giữa các mẫu thử có thể vượt quá sự biến đổi trong kỹ năng phân tích của phòng thử nghiệm)

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Quan sát được

Kỳ vọng

0

58

58

1

32

48,56

2

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

16,94

3

14

3,15

4

3

0,33

5

2

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Tổng số

127

127

Một hoặc hai kết quả có thể do ngẫu nhiên; ba có thể không do ngẫu nhiên; bốn hoặc hơn không thể là do ngẫu nhiên và quy trình cần được kiểm tra lại.

8.3.8.3. Đánh giá số đếm cao

Đánh giá các số đếm cao dựa vào các nguyên tắc tương tự, nhưng kết quả của các bên tham gia ít biến động hơn do sự khác nhau trong thành phần mẫu được dự kiến.

Có thể đánh giá kỹ năng trong thời gian dài với trên 12 mẫu, ví dụ bằng phương pháp phân vị, cho phép tính tối đa là 24 điểm. Các đơn vị tham gia được giao một đích kỹ năng ít nhất là 70 %. Nếu bỏ qua quy tắc 0,5 log10 và giả định rằng tất cả các bên tham gia có khả năng đạt đến kỹ năng tương đương thì bằng cách sử dụng lý thuyết đa thức, có thể thấy rằng xác suất để một phòng thử nghiệm nhận được một điểm số tích lũy ít hơn 70 % của điểm tối đa có thể là 5,2 %. Điều này có nghĩa rằng trong các điều kiện như trên thì xấp xỉ 1 trong 20 đơn vị tham gia có thể được nhận dạng không chính xác là “kỹ năng kém”. Trong thực tế, kỹ năng của các đơn vị không tương đương và một vài phòng thử nghiệm thiếu kinh nghiệm đối với các phép thử mà họ thực hiện, do đó xác suất về một kỹ năng đạt yêu cầu bị nhận định nhầm là “kém” thì thấp hơn nhiều so với giá trị trên. Hơn nữa, việc sử dụng quy tắc 0,5 log10 làm giảm xác suất này đến ít hơn 0,1 %.

Ví dụ thực tế về đánh giá kỹ năng trong thời gian dài qua cách sử dụng các bảng thống kê được nêu trong Phụ lục C.

8.4. Đánh giá các phương pháp định tính

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Đối với các nghiên cứu so sánh liên phòng thử nghiệm trong đó sử dụng một hoặc nhiều phương pháp định tính thì kết quả là rõ ràng, có hoặc không, phát hiện hoặc không phát hiện.

Các phương pháp phân tích thống kê đối với dạng kết quả này bị hạn chế, nhưng nhiều tùy chọn khác nhau đã được đề cập chẳng hạn như LOD50, các đánh giá về mức phù hợp, tương hợp và tỷ lệ chính xác, và cách tiếp cận tối ưu vẫn đang được xem xét.

8.4.2. Kỹ năng của từng phòng thử nghiệm đơn lẻ

Một phương pháp đơn giản để các phòng thử nghiệm tham gia tự đánh giá là ghi lại số các kết quả dương tính và âm tính họ thu được cùng với số kết quả dương tính và âm tính được kỳ vọng. Thông tin này cần được kết nối với các ghi chép về mật độ vi sinh đích trong các mẫu để đánh giá kỹ năng phân tích và đồng thời cung cấp số liệu hiện hành về giới hạn phát hiện của phương pháp tại mỗi phòng thử nghiệm.

Vì kết quả của phép thử là “có” hoặc “không” nên cần thử nhiều mẫu để đánh giá kỹ năng của từng phòng thử nghiệm trong chương trình PT. Mỗi đơn vị tham gia nên thử ít nhất tổng cộng 18 mẫu. 18 mẫu này bao gồm lặp lại 6 lần ở 3 mức nhiễm khác nhau trong mẫu. Ba mức đó là: âm tính (kiểm tra sự xuất hiện của dương tính giả, ví dụ: nhiễm chéo); mức mật độ thấp (nghĩa là các mẫu bị nhiễm tại hoặc hơi cao hơn giới hạn phát hiện của phương pháp sử dụng, lý tưởng nhất nên có mức nhiễm mà trong đó 50 % mẫu được tìm thấy dương tính và 50 % là âm tính (LOD50) và mức cao (mức này nên gấp 10 lần so với mức thấp và đại diện cho mức nồng độ tại đó tất cả mẫu thử phải cho dương tính).

Diễn giải dữ liệu theo cách đơn giản:

a) đối với mức âm tính: tất cả các mẫu cần phải là âm tính;

b) đối với mức cao: tất cả các mẫu cần phải dương tính;

c) đối với mức thấp: có thể tính toán (xem Bảng 3) bằng cách sử dụng phân bố nhị thức và tỷ lệ phần trăm mẫu được tìm thấy dương tính (có thể nhận một giá trị tham chiếu từ nhà tổ chức hoặc một số ước tính tốt nhất từ kết quả của tất cả các bên tham gia) với mức tin cậy 95 %.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Số dương tính từ sáu mẫu

Phần trăm trung bình dương tính

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

90%

0

53,1 %

26,2 %

11,8 %

4,7 %

1,6 %

0,4 %

0,1 %

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

0,0 %

1

35,4 %

39,3 %

30,3 %

18,7 %

9,4 %

3,7 %

1,0 %

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

0,0 %

2

9,8 %

24,6 %

32,4 %

31,1 %

23,4 %

13,8 %

6,0 %

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

0,1 %

3

1,5 %

8,2 %

18,5 %

27,6 %

31,3 %

27,6 %

18,5 %

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1,5 %

4

0,1 %

1,5 %

6,0 %

13,8 %

23,4 %

31,1 %

32,4 %

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

9,8 %

5

0,0 %

0,2 %

1,0 %

3,7 %

9,4 %

18,7 %

30,3 %

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

35,4 %

6

0,0 %

0,0 %

0,1 %

0,4 %

1,6 %

4,7 %

11,8 %

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

53,1 %

Ví dụ: Để sử dụng Bảng 3, trước hết cần biết tỷ lệ dương tính trung bình. Ở đây, giả định tỷ lệ này là 30 %, có nghĩa là khoảng một trong ba mẫu có chứa vi sinh vật đích. Vì chỉ có 30 % các mẫu có vi sinh vật đích, nên dường như có một số mẫu có thể không chứa vi sinh vật đích trong khi có 6 mẫu được thử chẳng hạn.

Bảng 3 cho thấy rằng xác suất để có được một tập hợp sáu mẫu bao gồm bốn mẫu dương tính và hai mẫu âm tính là 6 % Điều này không chắc xảy ra nhưng vẫn có thể chấp nhận được khi giả định mức tin cậy là 95 %. Tổng xác suất tìm thấy 0, 1, 2, 3 hoặc 4 mẫu dương tính là 99,0 % (11,8 + 30,3 + 32,4 + 18,5 + 6,0). Trong trường hợp này, 99 % là giá trị nhỏ nhất ở trên 95 % (là giới hạn độ tin cậy). Bỏ đi 4 kết quả dương tính thành 93 %, tỷ lệ này thấp hơn mức tin cậy 95 %.

Theo cách lập luận khác thì xác suất để tìm thấy cả 6 trong 6 mẫu đều dương tính chỉ là 0,1 %. Điều này chắc chắn không xảy ra chỉ do ngẫu nhiên. Khi độ không đảm bảo được đặt ra ở mức tối đa là 5 %, (100 % - 95 % độ tin cậy), tỷ lệ trên sẽ nằm trong phạm vi giới hạn này. Cũng tương tự như vậy là tình huống có 5 hoặc 6 mẫu trong tổng số 6 mẫu thử được tìm thấy dương tính. Tổng các xác suất trên là 1,1 %, vẫn thấp hơn giới hạn 5 %. Chỉ khi tình huống trên có thêm 4 mẫu nữa trong 6 mẫu được tìm thấy dương tính thì sẽ làm cho độ không đảm bảo vượt quá giới hạn 5 %. Khi mức tối đa được thiết lập ở 5 %, tình huống có 5 hoặc 6 mẫu dương tính trong tổng 6 mẫu được thử sẽ được xem như một kết quả không mong đợi.

CHÚ THÍCH: Tại LOD50, 50 % trong số mẫu thử được tìm thấy dương tính. Về mặt lý thuyết [có tính đến phương pháp được sử dụng có khả năng phát hiện một vi sinh vật đơn lẻ trong một mẫu và giả định rằng có một phân bố đồng nhất (Poisson) giữa các mẫu], mức nhiễm trung bình các mẫu được dự kiến là 0,7 vi sinh vật/mẫu để đạt được LOD50. Trong thực nghiệm, sự phân bố đồng đều một cách lý tưởng thường không đạt được và theo cách tương đối, nên có nhiều trong số các mẫu không chứa bất kỳ một vi sinh vật (sống) nào hơn là trông đợi vào một sự phân bố đồng đều thực sự. Để nhận được 50 % các mẫu dương tính, cần tăng mức nhiễm trung bình lên, dựa trên kinh nghiệm về vật liệu dùng thử nghiệm.

8.4.3. Chương trình so sánh kỹ năng của các phòng thử nghiệm

Để so sánh kỹ năng phân tích của một phòng thử nghiệm so với các phòng thử nghiệm khác thì nhà tổ chức có thể tính toán số lượng (hoặc tỉ lệ phần trăm) dương tính đối với các mức độ nhiễm vi sinh vật đích được tìm thấy cho mỗi mẫu thử bởi mỗi phòng thử nghiệm (được báo cáo theo mã của phòng thử nghiệm). Ví dụ cụ thể được nêu trong Hình 2. Trong nghiên cứu này, 28 phòng thử nghiệm tham gia (được chỉ thị theo mã phòng thử nghiệm trong trục NL của Hình 2). Mỗi phòng thử nghiệm phân tích 22 mẫu phân gà. đã được gây nhiễm nhân tạo với vật liệu chuẩn chứa hai typ vi khuẩn Salmonella khác nhau ở 4 mức nhiễm khác nhau (dao động từ 10 đến 500 cfu/mẫu). Trong Hình 2, các kết quả được tổng hợp đối với mẫu có mức nhiễm thấp (n = 14). Số mẫu dương tính mà các phòng thử nghiệm tham gia thu được dao động từ 0 đến 11 mẫu (trục n+ trong Hình 2).

Ngoài cách mô tả rõ ràng các kết quả như trên, có thể tính toán các tỉ lệ đặc hiệu, tỉ lệ chọn lọc và tỉ lệ chính xác cho mỗi mức độ nhiễm của các mẫu (theo ISO 16140[4]). Các tỉ lệ này có thể được tính toán cho từng phòng thử nghiệm và cho kết quả từ tất cả các phòng thử nghiệm tham gia.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

NL mã phòng thử nghiệm

n+ số phát hiện dương tính

Hình 2 - Số lượng dương tính phân lập bởi mỗi phòng thử nghiệm đối với tất cả các mẫu có mức vi sinh thấp được thử nghiệm (n = 14)

Độ đặc hiệu, rSP, được tính theo công thức:

trong đó:

n_ là số kết quả âm tính được tìm thấy;

E(n-tot) là tổng số mẫu âm tính kỳ vọng.

Độ chọn lọc, rSE, được tính theo công thức:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

trong đó:

n+ là số kết quả dương tính được tìm thấy;

E(n+tot) là tổng số mẫu dương tính kỳ vọng.

Độ chính xác, rAC, được tính theo công thức:

trong đó: ntot là tổng số mẫu.

Việc đánh giá như trên chỉ có ý nghĩa nếu được liên kết với số lượng vi sinh vật đích có mặt trong mẫu.

 

PHỤ LỤC A

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

VÍ DỤ VỀ CÁC CHI TIẾT ĐƯỢC ĐƯA VÀO KẾ HOẠCH CỦA CHƯƠNG TRÌNH PT

Kế hoạch chương trình PT - Tóm tắt chương trình

Tên chương trình:

Chương trình kiểm tra thực phẩm

 

 

Dạng chương trình:

Vi sinh thực phẩm

Mục đích:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Tiêu chí lựa chọn đơn vị tham gia:

Phòng thử nghiệm vi sinh thực phẩm có trang thiết bị phù hợp để thao tác với các vi sinh vật gây bệnh thuộc cấp nguy hiểm 1 và 2

Các phòng thử nghiệm mục tiêu:

Các phòng thử nghiệm vi sinh thuộc tư nhân và khu vực công

Luật quy định:

Quy định của EU số 882/2004 liên quan đến kiểm soát pháp quyền về thực phẩm

Dạng mẫu:

Vi sinh vật được đông khô, đóng trong các lọ thủy tinh nhỏ

Các phép thử:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Campylobacteria spp.

Escherichia coli O157

Salmonella spp.

Định lượng:

Vi sinh vật hiếu khí

Bacillus cerius

Clostridium perfringens

Coliforms

Enterobacteriaceae

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Listeria monocytogenes

Staphylococci dương tính với coagulase

Các tiêu chí về thành phần mẫu:

Có mặt hệ vi sinh vật nền giống như tồn tại trong các mẫu thực phẩm thật và đưa đến thách thức thực sự cho các quy trình thử vi sinh thực phẩm thông dụng

Số lượng đích các đơn vị tham gia:

Lớn hơn 200

Số đợt phân phối hàng năm:

Sáu (6)

Số mẫu phân phối mỗi đợt:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Nhà thầu phụ bên ngoài:

Không

Chuyên gia kỹ thuật:

Tên từng người

Thử nghiệm kiểm soát chất lượng từng mẻ mẫu:

Tên phòng thử nghiệm và các phương pháp tiêu chuẩn được dùng. 25 mẫu từ mỗi mẻ được kiểm tra về tất cả các chỉ tiêu đã định

Phương pháp thống kê:

Trung vị đồng thuận (phương pháp đếm)

Phân vị để xác định giá trị bất thường

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Tiêu chí chấm điểm:

Ba điểm được tính cho mỗi mẫu: i) kiểm tra vi sinh gây bệnh; ii) đếm khuẩn lạc hiếu khí; iii) các vi sinh vật chỉ thị

Đánh giá kỹ năng liên tục:

Tiêu chí xác định “kết quả kém”:

ít hơn 70 % điểm tối đa có thể qua 6 đợt phân phối mẫu

Tiếp cận hỗ trợ tích cực bởi nhà tổ chức đối với “nơi có kết quả kém":

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Có - chỉ có tính chất chỉ thị

Điều phối viên chương trình hoặc người được ủy quyền ký/ngày

Phê chuẩn bởi ban lãnh đạo:

Ngày

Tài liệu đề xuất được ủy quyền:

Ngày

Trị giá được duyệt:

Ngày

Ngày công nhận:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Các nhận xét khác:

Xem xét tại cuộc họp ban lãnh đạo

 

PHỤ LỤC B

(Tham khảo)

CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA MỨC SAI KHÁC GIỮA CÁC PHẦN MẪU CỦA VẬT LIỆU CẦN THỬ

B.1. Phép thử T1-T2

Phép thử này nên được sử dụng cho các trường hợp có ít vi sinh vật hiện diện trong các phần chia từ vật liệu thử (TM), ở mức từ 35 đến 40 cfu/đĩa, hoặc trường hợp không thể ấn định được “độ lệch chuẩn mục tiêu” để đánh giá độ đồng nhất đạt được.

Độ biến thiên giữa các phần mẫu phân tích của một đơn vị (hoàn nguyên) từ TM, T1 và giữa các phần mẫu phân tích từ các đơn vị khác (đã hoàn nguyên) của mỗi mẻ TM, T2, được kiểm tra theo các cách khác nhau. Các chi tiết được đề cập trong Tài liệu tham khảo [12], nhưng một nội dung tóm tắt được nêu dưới đây.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

              (B.1)

trong đó:

zij là số cfu trong một phần mẫu phân tích j của đơn vị thứ i;

zi+ là tổng số cfu trong tất cả các phần mẫu phân tích của đơn vị i

                     (B.2)

J là số các phần mẫu phân tích từ mỗi đơn vị mẫu.

Áp dụng phép thử thống kê T2 để xác định độ biến thiên giữa các phần mẫu phân tích từ những đơn vị khác nhau (hoàn nguyên) của một mẻ TM:

                            (B.3)

trong đó:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

I là số các đơn vị mẫu được kiểm tra.

Nếu áp dụng phân bố Poisson thì T1T2 tuân theo một phân bố  với các bậc tự do lần lượt là I(J - 1) và I - 1. Trong trường hợp này, các giá trị kỳ vọng của T1T2 bằng số bậc tự do. Vì vậy,  và được kì vọng bằng 1.

Đối với độ biến thiên giữa các đơn vị trong một mẻ TM, theo phân bố Poisson là độ biến thiên nhỏ nhất theo lý thuyết có thể đạt được. Tuy nhiên, người ta dự kiến có sự phân tán mạnh và  thì hầu như là lớn hơn 1 (Tài liệu tham khảo [12]). Một mức biến thiên chấp nhận được giữa các đơn vị trong một mẻ TM là  ≤ 2.

VÍ DỤ

Các dữ liệu được cho dưới đây:

Đơn vị:

số đếm (kép)

1

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2

z21 = 33        z22 = 42

3

z31 = 40        z32 = 42

I = 3 (ba đơn vị)

 

J = 2 (lặp lại hai lần)

 

z1j/J = (45+49)/2 = 94/2 = 47

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

z2j/J = (33+42)/2 = 75/2 = 37,5

 

z3j/J = (40+42)/2 = 82/2 = 41

T1 cần tuân theo phân bố với I(J - 1) = 3 x (2 - 1) = 3 bậc tự do.

Kiểm tra hai phía ở mức tin cậy 95 %, giới hạn dưới và giới hạn trên đối với phân bố này, với 3 bậc tự do, lần lượt là 0,22 và 9,3. Giá trị T1 đã tính (1,298) tuân theo các tiêu chí này.

Mức biến thiên có thể chấp nhận cho một mẻ mẫu là: T2 /(I - 1) ≤ 2.

Ở đây, T2 /(I - 1) = 2,206/(3 - 1) = 1,103 và như vậy, tuân thủ tiêu chí chấp nhận một mẻ mẫu.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Kiểm tra độ đồng nhất được khuyến nghị đối với các trường hợp mà trong các phần mẫu thử có chứa một lượng lớn vi sinh vật (nhiều hơn 35 đến 40 cfu/đĩa) và đã có sẵn một độ lệch chuẩn đích sp, thể hiện mức hiệu suất dự kiến của các đơn vị tham gia PT. Phép kiểm tra này dựa trên phép thử “độ đủ đồng nhất” trong Tài liệu tham khảo [11].

Với một tập hợp các phần mẫu thử được phân tích kép và các kết quả được thể hiện dưới dạng đơn vị log, thì kết quả kiểm tra sẽ đạt nếu mức sai khác giữa các phần mẫu, S2sam, thỏa mãn điều kiện (B.5):

trong đó, S2an là độ biến thiên phân tích. Phép kiểm tra này không chắc chắn bằng phép thử T1 - T2 dẫn đến quyết định loại bỏ một vật liệu không đồng nhất hoàn toàn (các kết quả phân tích tuân theo phân bố Possion), nhưng vật liệu này lại đủ độ đồng nhất để có thể sử dụng cho một đợt thử nghiệm thành thạo với một độ lệch chuẩn đích là sp. Điều này là do các mẫu được chấp nhận trừ khi có biểu hiện với mức tin cậy cao (95 %) rằng, sự phù hợp với mục đích sử dụng tiêu chuẩn ssam > 0,3 sp, trong đó ssam là độ lệch chuẩn từ đó Ssam được ước tính.

VÍ DỤ:

Các kết quả định lượng thu được từ phân tích kép 10 phần mẫu thử, tính độ chênh lệch D, tổng S và D2 ở dạng logarit thập phân, cho mỗi nhóm kết quả (Bảng 1).

Phần mẫu

Phân tích 1

Phân tích 2

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Log - phân tích 2

D

S

D2

1

35

51

1,5441

1,7076

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

3,2516

0,026733

2

52

46

1,7160

1,6628

0,0532

3,3788

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

3

35

33

1,5441

1,5185

0,0256

3,0626

0,000653

4

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

38

1,7243

1,5798

0,1445

3,3041

0,020878

5

30

40

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1,6021

-0,1249

3,0792

0,015610

6

33

30

1,5185

1,4771

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2,9956

0,001713

7

41

60

1,6128

1,7782

-0,1654

3,3909

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

8

35

55

1,5441

1,7404

-0,1963

3,2844

0,038532

9

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

67

1,8325

1,8261

0,0064

3,6586

0,000041

10

52

60

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1,7782

-0,0621

3,4942

0,003362

Tính tổng của D2 và chia cho hai lần của số phần mẫu. Đây là trung bình tổng bình phương của chênh lệch trong một mẫu,

Trong trường hợp này,   = 0,1382/20 = 0,00691.

Tính phương sai của  và chia kết quả cho 2. Giá trị này là .

Trong trường hợp này,  = 0,04224/2 = 0,02112

Tiếp đó, S2an =  và S2sam = ( -)/2

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Giá trị của F1F2 phụ thuộc vào số phần mẫu được kiểm tra trong phép thử này. Khi phân tích 10 phần mẫu thì F1 = 1,88 và F2 = 1,01 (giá trị cho số phần mẫu khác có thể tham khảo thêm trong Tài liệu tham khảo [11]).

Nếu độ lệch chuẩn mục tiêu được áp dụng cho các kết quả của phép thử thành thạo này, sp, bằng 0,25 log10, đơn vị, thì

Giá trị này lớn hơn S2sam (0,007104). Do đó, Điều kiện (8.5) được thỏa mãn và vật liệu thử này đủ độ đồng nhất.

 

PHỤ LỤC C

(Tham khảo)

PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH ĐÁNH GIÁ DÀI HẠN KỸ NĂNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH PT SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG

C.1. Chuẩn bị dữ liệu phân tích

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) số đếm được báo cáo bởi đơn vị tham gia (số đếm nR);

b) số đếm được sử dụng vẽ đồ thị và biểu đồ, và/hoặc để tính điểm (số đếm ns);

c) số đếm để phân tích (số đếm nA);

d) một cột để nhận xét (nội dung được điền) (số đếm nc) để ghi lại bất kỳ lưu ý nào về kết quả của các đơn vị tham gia.

Số đếm nR thông thường được điền vào ở dạng số học (ví dụ: 1100) hoặc số khoa học (ví dụ, 1,1e3). Nếu một kết quả được báo cáo ở dạng một giá trị bị chặn, thì sẽ sử dụng một nội dung nhận xét và một kí hiệu “lớn hơn” hoặc “nhỏ hơn” sẽ được điền vào trước chữ số (ví dụ: < 10, > 1100, v.v...).

Số đếm nR cũng có thể được điền với nội dung khác, như NE (không thử/không kiểm tra), ND (không phát hiện) và UA (không thể đánh giá). Cần thực hiện nhập giá trị cho tất cả các trường trong cột.

Nếu số đếm nR không thể phân tích được, (ví dụ: điền vào là NE) thì sẽ không phân tích sâu hơn hoặc không tính điểm.

Nếu số đếm nR không thể đưa vào phân tích thống kê, ví dụ: kết quả được báo cáo ở dạng một giá trị bị chặn, nhưng vẫn được tính một điểm số, và/hoặc kết quả này được gắn lên đồ thị, sau đó sẽ ấn định một giá trị số học cho số đếm ns này.

Giá trị này sẽ đảm bảo rằng điểm số chính xác được tính và kết quả này được vẽ chính xác lên đồ thị. Ví dụ: điểm số có thể không được tính cho các kết quả báo cáo là “không phát hiện” nhưng có thể hữu ích khi đưa các kết quả này lên một biểu đồ. Trong trường hợp này, số đếm ns có thể được điền vào như là -99 và cột số đếm nA cần để trống.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

C.2. Xử lý các số liệu bị giới hạn

Tất cả các kết quả bị chặn dưới được phân tích theo một trong các cách sau:

a) Tất cả các kết quả này được ấn định một giá trị số đếm ns là 0,2, nhưng không được đưa vào phân tích (số đếm nA = 0). Điều này phát sinh khi việc báo cáo một giá trị bị chặn dưới, hoặc báo cáo là “zero” (0), hoặc “không phát hiện” rõ ràng là do lỗi của phòng thử nghiệm vì mức vi sinh vật hoặc nhóm vi sinh đích có trong mẫu là tương đối khá cao.

b) Tất cả các giá trị bị chặn dưới và các kết quả bằng 0 hoặc “không phát hiện” sẽ được ấn định một số đếm ns là 0,2 1) và được đưa vào phân tích vì mật độ vi sinh vật hoặc nhóm vi sinh vật đích là tương đối thấp và các kết quả này có thể phát sinh ngẫu nhiên (số đếm ns = số đếm nA = 0,2). Có một số ngoại lệ, chẳng hạn khi giá trị bị chặn dưới được báo cáo (<x) cho thấy một mức phát hiện không thích hợp và giá trị của x thực tế cao hơn trung vị (trong tính toán ban đầu). Trong các trường hợp ngoại lệ này thì cột số đếm nA cần để trống.

c) Không tính điểm cho các giá trị bị chặn dưới. Nhìn chung, nên cho điểm, trừ khi có một lý do về mặt vi sinh học để không làm điều đó. Trong tình huống này, trường số đếm nA và số đếm ns để trống.

Các giá trị bị chặn trên được điền vào là 1,0 log10, trên số điểm tối đa được báo cáo. Nếu vì bất cứ lý do gì, kết quả này bị loại ra khỏi các biểu đồ và phân tích, và không được tính điểm nào, thì trường số đếm ns và số đếm nA nên để trống. Nếu một kết quả được báo cáo là >x, trong đó giá trị của x thấp hơn giá trị trung vị thì trường số đếm nA nên để trống.

C.3. Dựng biểu đồ của các kết quả

Biểu đồ được xây dựng dựa trên các giá trị số đếm nS. Có hai dạng biểu đồ được sử dụng cho các kết quả của chương trình PT: biểu đồ tần suất (hoặc biểu đồ cột) và biểu đồ phân tán. Các điểm sẽ được xem xét khi lựa chọn kiểu biểu đồ để sử dụng, kể cả kiểu định lượng (MPN hoặc đếm khuẩn lạc...) và số đơn vị tham gia áp dụng cách định lượng này.

Biểu đồ cột được tạo ra từ giá trị log thập phân của số đếm nR, được nhóm lại như sau:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Mọi trường hợp đặc biệt hoặc không số hóa được đưa lên biểu đồ (ví dụ: - 99) cần đưa chúng vào một thang riêng.

Cách khác, có thể tạo dựng biểu đồ cột dựa trên giá trị logarit thập phân của số đếm nR được làm tròn đến 0,05 gần nhất. Trong trường hợp này, tạo nhóm giá trị như sau:

0, 0,05, 0,1, 0,15,... giá trị log10 (số đếm nR) lớn nhất.

Trong trường hợp này, thang 0,1 bao gồm mọi kết quả từ 0,075 đến 0,124.

Biểu đồ phân tán có thể được dựng bằng cách sử dụng trực tiếp giá trị số đếm ns, sau đó hoán đổi trục y thành một thang log thập phân. Các số liệu không được số hóa sẽ được loại ra khỏi biểu đồ phân tán.

Cách nhóm theo 0,05 log10 thường được sử dụng cho biểu đồ cột, do đó dãy tính điểm cũng được làm tròn đến 0,05 log10.

C.4. Tính điểm

Khi các kết quả của chương trình PT được đánh giá bằng điểm số, thì các chuẩn mực tính điểm cần được liệt kê trong kế hoạch chương trình PT hoặc trong các báo cáo. Điểm số tính cho các kết quả định lượng được điền vào một trường (cột) điểm (nc-score); điều này có thể bổ sung thủ công, khi cần.

Lưu ý rằng điểm số cuối cùng đối với một kết quả có thể đạt được từ nc-score, nhưng các yếu tố khác có thể cũng cần được xem xét đến.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

PHỤ LỤC D

(Tham khảo)

VÍ DỤ VỀ MỘT BẢNG DỮ LIỆU AN TOÀN

Bảng dữ liệu an toàn đối với các mẫu của chương trình PT thực phẩm - dạng đông khô

Ngày có hiệu lực:          ngày-tháng-năm

Ngày soát xét:              ngày-tháng-năm

Ban hành đến:               tất cả các đơn vị tham gia chương trình

Nhận dạng sản phẩm và nơi thiết lập

Sản phẩm:                    Các mẫu thực phẩm được tạo ra cho các phép thử vi sinh thông thường

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Cấu tạo hoặc thông tin về thành phần

Các lọ thủy tinh nhỏ (vial) với nguyên liệu được làm đông khô, có chứa một hỗn hợp vi khuẩn thuộc nguy cơ nhóm 2 theo quy định bởi luật quốc gia và quốc tế. Vi sinh vật thuộc nhóm nguy cơ 2 có thể gây bệnh cho người và có thể là mối nguy cho cán bộ phòng thử nghiệm, nhưng không chắc phát tán ra cộng đồng.

Nhận dạng mối nguy

Mối nguy hóa lý:           Không áp dụng

Mối nguy cơ sức khỏe: Nguy cơ lây nhiễm thấp, miễn là chú ý thao tác tốt trong phòng thử nghiệm.

Mối nguy về môi trường: Không áp dụng

Các phương tiện sơ cứu

Nếu xảy ra tai nạn khi tiếp xúc với vật liệu thử thì nhân viên phòng thử nghiệm phải tuân thủ quy trình sơ cứu nội bộ như vẫn thường được áp dụng khi phơi nhiễm với một mẫu thực phẩm tương tự (có chứa mối nguy vi sinh). Tiếp theo, cần có chỉ dẫn của thầy thuốc đối với sự phơi nhiễm này.

Các phương tiện chống cháy

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Các phương tiện làm giảm bớt tai nạn

Phủ lên khu vực thao tác bằng một vật liệu hút-thấm và tưới đẫm lên nó một chất sát trùng thích hợp. Khu vực này cần để yên trong 30 min trước khi lau dọn lớp dung dịch sát trùng trên bằng một lớp vật liệu hút-thấm nữa. Cần mang trang bị bảo vệ cá nhân thích hợp.

Quản lý và lưu giữ

Bảo quản ở nhiệt độ phòng, trong chỗ tối. Các mẫu cần được xử lý trong môi trường phòng thử nghiệm, như trong hướng dẫn hoặc quy chuẩn quốc gia, thích hợp với phân tích vi sinh. Cán bộ thao tác với vật liệu thử cần được đào tạo về cách thao tác với các mẫu sinh vật lây nhiễm. Vật liệu này cần được xử lý với mức thận trọng giống như khi làm việc với các với mẫu thực phẩm tương tự. Cần tránh tiếp xúc tay và miệng trong quá trình thao tác với mẫu thử và quy trình chuẩn về rửa tay liên quan đến thao tác với các mẫu thường ngay cũng cần áp dụng với các mẫu PT.

Kiểm soát phơi nhiễm và bảo hộ cá nhân

Sử dụng GLP và mặc đồ bảo hộ phòng thử nghiệm thích hợp, mang găng tay và kính bảo vệ mắt. Việc lấy các lọ mẫu ra khỏi bao bì và hoàn nguyên cần được thực hiện trong một tủ hút bảo vệ.

Đặc tính hóa học và vật lý

Vật liệu khô, trơ, không mùi.

Độ ổn định và tính phản ứng

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Thông tin về độc tính

Không áp dụng

Thông tin vệ sinh thái

Không áp dụng

Xem xét loại bỏ

Các vật liệu đã sử dụng cần phải khử nhiễm bằng nồi hấp tiệt trùng, giống như đối với các thực phẩm có chứa các vi sinh vật lây nhiễm và phù hợp với các quy định quốc gia và nội bộ.

Thông tin vận chuyển

Tham khảo các quy định quốc gia và quốc tế về vận chuyển vi khuẩn thuộc nhóm nguy hiểm cấp độ 2 (chất sinh học, cấp hạng B, UN3373).

Thông tin quy định

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

CẢNH BÁO - Bảng dữ liệu an toàn này không hàm chứa các đánh giá mối nguy về không gian thao tác riêng của người sử dụng theo yêu cầu của luật an toàn và sức khỏe.

Thông tin khác

Khi xảy ra sự cố liên quan đến nhân viên thử nghiệm bị phơi nhiễm với vật liệu chứa trong mẫu, cần liên hệ với nhà tổ chức chương trình PT.

Để có thêm thông tin an toàn liên quan đến mẫu, các bên tham gia nên đọc kỹ bản hướng dẫn gửi kèm theo mẫu này.

 

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] TCVN 6910-2 (ISO 5725-2) Độ chính xác (độ đúng và độ chụm) của phương pháp đo và kết quả đo - Phần 2: Phương pháp cơ bản xác định độ lặp lại và độ tái lập của phương pháp đo tiêu chuẩn.

[2] TCVN 6910-4 (ISO 5725-4) Độ chính xác (độ đúng và độ chụm) của phương pháp đo và kết quả đo - Phần 4: Các phương pháp cơ bản xác định độ đúng của phương pháp đo tiêu chuẩn.

[3] TCVN 8128-1:2009 (ISO/TS 11133-1:2009) Vi sinh vật trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi - Hướng dẫn chuẩn bị và sản xuất môi trường nuôi cấy - Phần 1: Hướng dẫn chung về đảm bảo chất lượng đối với việc chuẩn bị môi trường nuôi cấy trong phòng thử nghiệm

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

[5] TCVN ISO/IEC 17025 Yêu cầu chung về năng lực của phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn

[6] ISO/TS 19036 Microbiology of food and animal feeding stuffs - Guidelines for the estimation of measurement uncertainty for quantitative determinations

[7] ISO/IEC Guide 99 International vocabulary of metrology - Basic and general concepts and associated terms (VIM)

[8] ILAC-G13, ILAC Guidelines for the requirements for the competence of providers of proficience schemes. Available (2010-02-10) at: http://www.ilac.org/documents/ILAC G13 08 2007.pdf

[9] Thompson, M., ELLISON, L.R,. WOOR, R. for IUPAC. The international harmonized protocol for the proficiency testing of analytical chemistry laboratories. Pure Appl. Chem.. 2006, 78, pp. 145- 196. Available (2010-10-08) at: http://iupac.org/publications/pac/2006/pdf/7801x0145.pdf

[10] AUGUSTIN, J.C., CARLIER, V. Lessons from the organization of a proficiency testing program in food microbiology by interlaboratory comparison: analytical methods in use, impact of methods on bacterial counts and measurement uncertainty of bacterial counts. Food Microbiol. 2006, 23, pp. 1-138

[11] FEARN, T., THOMPSON, M. A new test for “sufficient homogeneity”. Analyst 2001, 126, pp, 1414-1417

[12] HEISTERKAMP, S.H., HOEKSTRA, J.A., VAN STRIJP-LOCKEFEER, N.G.W.M,. VAVELAAR, A.H,. MOOIJMAN, K.A, IN’T VELD, P.H., S.H.W., MAIER, E.A.; GRIEPINK.B. Statistical analysis of certification trials for microbioligcal reference materials. Luxembourg: commission of the European communities, 1993. 41 p. (Report EUR 15008 EN.)

[13] JARVIS, B. Sampling for microbiological analysis. In: LUND, B.M., BAIR-PACKER, A C., GOULD, G.W., editors. The microbiological safety and quality of food, Vol. 2, pp.1691-1734. Gaithersburg, MD: Aspen, 2000

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

[15] JARVIS, B., HEDDGES.A.J., CORRY, J.E.L. Assessment of measurement uncertainty for quantitative methods of analysis: comparative assessment of the precision (uncertainty) of bacterial colony counts. Int. J. Food Microbiol. 2007, 116, pp. 44-51

[16] JARVIS.B., CORRY, J.E.R., HEDGES, A.J. Estimates of measurement uncertainty from proficiency testing schemes, internal laboratory quality monitoring and during routine enforcement examination fo foods. J. Appl. Microbiol. 2007, 103, pp. 462-467

[17] TILLETT, H.E., LIGHTFOOT, N.F. EATON, S. PLACE, B.M. External quality assessment of microbial counts from water: To score or not to score for proficiency. J. Chart. Inst. Water Environ. Manage. 2000, 14, pp. 304-308

NATIONAL STANDARD

TCVN 9331 : 2012

ISO/TS 22117 : 2010

MICROBIOLOGY OF FOOD AND ANIMAL FEEDING STUFFS - SPECIFIC REQUIREMENTS AND GUIDANCE FOR PROFICIENCY TESTING BY INTERLABORATORY COMPARISON

Foreword

TCVN 9331:2012 corresponds to ISO/TS 22117:2010;

TCVN 9331:2012 is developed by the National Institute for Food Control, requested by the Ministry of Health, appraised by the Directorate for Standards, Metrology and Quality and issued by the Ministry of Science and Technology.

Introduction

General requirements for organization of proficiency testing (PT) schemes of all types are given through ISO/CASCO (Committee on Conformity Assessment) in ISO/IEC 17043; additionally, general guidance is available from the International Union of Pure and Applied Chemistry (IUPAC, see Reference [9]) and the International Laboratory Accreditation Cooperation (ILAC, see Reference [8]). However, these recommendations may not be directly applicable to all cases and should be interpreted specifically for different laboratory sectors where PT schemes are organized. For this reason, a document is needed to establish the criteria which a provider (and associated collaborators) of PT schemes shall meet in order to be recognized as competent to provide PT schemes for microbiological analysis. This applies particularly to the specific technical requirements necessary to deal with living microorganisms, such as sample homogeneity and stability, as well as with the interpretation of presence/absence (detection) tests which is not covered by an existing document.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Additionally, data from such PT schemes can be used:

a) to provide information to the organizations responsible for laboratory acceptance within an official control framework and to allow continuous monitoring;

b) to aid laboratory accreditation in a general framework of quality management;

c) to inform those responsible for quality in the participating laboratories as part of the educative elements of external quality assessment of trueness (bias).

Information from PT schemes may also be used for:

1) identification of the possible sources of errors, particularly the bias component of uncertainty, to improve performance;

2) estimation of measurement uncertainty for enumeration methods (see ISO/TS 19036[6]) and limits of detection for presence/absence methods;

3) demonstration of staff competence to perform a specific microbiological examination;

4) evaluation or validation of a given method by the study of trueness and precision;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



6) assignment of a “target” value for an analyte in a material in order to establish a reference material.

However, these aspects are not specifically covered in this Technical Specification.

Proficiency testing schemes are therefore organized to meet certain criteria and the testing programme (frequency, number of samples, number of repeats, etc.) shall meet the requirements of the type of method used and commodity analysed, to achieve the level of control desired by all parties involved.

MICROBIOLOGY OF FOOD AND ANIMAL FEEDING STUFFS - SPECIFIC REQUIREMENTS AND GUIDANCE FOR PROFICIENCY TESTING BY INTERLABORATORY COMPARISON

1. Scope

This standard gives requirements and guidance for the organization of proficiency testing schemes for microbiological examinations of:

a) food and beverages;

b) animal feeding stuffs;

c) food production environments and food handling;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



This standard is also potentially applicable to the microbiological examination of water where water is either used in food production or is regarded as a food in national legislation.

This standard relates to the technical organization and the implementation of proficiency testing schemes, as well as the statistical treatment of the results of microbiological examinations.

This standard is designed for use with ISO/IEC 17043 and ISO 13528, and deals only with areas where specific or additional details are necessary for proficiency testing schemes dealing with microbiological analyses for the areas specified in the first paragraph.

2. Normative references

The following referenced documents are indispensable for the application of this document. For dated references, only the edition cited applies. For undated references, the latest edition of the referenced document (including any amendments) applies.

TCVN 6910-1 (ISO 5725-1) Accuracy (trueness and precision) of measurement methods and results - Part 1: General principles and definitions.

TCVN 6910-5 (ISO 5725-5) Accuracy (trueness and precision) of measurement methods and results - Part 5: Alternative methods for the determination of the precision of a standard measurement method.

TCVN 6404 (ISO 7218) Microbiology of food and animal feeding stuffs — General requirements and guidance for microbiological examinations

TCVN 8244-1 (ISO 3534-1) Statistics - Vocabulary and symbols - Part 1: General statistical terms and terms used in probability

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



TCVN ISO/IEC 17043:2011 Conformity assessment — General requirements for proficiency testing

ISO 13528 Statistical methods for use in proficiency testing by interlaboratory comparisons

3. Terms and definitions

For the purposes of this document, the terms and definitions given in TCVN 8244-1 (ISO 3534-1), TCVN 8244-2 (ISO 3534-2), TCVN 6910-1 (ISO 5725-1), TCVN 6910-5 (ISO 5725-5), ISO 13528, TCVN ISO/IEC 17043 and the following apply.

NOTE 1: Some terms used in the text have different meanings in microbiology and statistics, e.g. homogeneity, heterogeneity, test, sample, distribution. The context clarifies whether the terms refer to microbiological test samples or datasets used for statistical analysis.

NOTE 2: Some providers of proficiency testing use the term external quality assessment (EQA) to indicate schemes with broader application to all areas of operation of a laboratory and a particular educational remit. The requirements of this standard cover those EQA activities that meet the definition of proficiency testing.

3.1. target organism

microorganism which is the designated analyte for a proficiency testing sample.

3.2. background flora

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3.3. reference strain

microorganism obtained directly from an official culture collection and defined to at least the genus and species level, catalogued and described according to its characteristics and preferably originating from food or water as applicable.

(TCVN 8128-1:2009 (ISO/TS 11133-1:2009)[3], 3.3.2]

3.4. recovery percentage

proportion of the assigned value of the target organism recovered by the participant.

NOTE 1: The recovery percentage is calculated by multiplying by 100 the number of recovered colony forming units (cfu) per volume or per mass.

NOTE 2: The recovery percentage can be significantly below 100 % when competitive flora and matrix effects are present in a proficiency testing sample.

4. Scheme design and purpose

4.1. General

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4.2. Scheme objectives

The primary objective of any PT scheme is to provide information to enable laboratories to have confidence in the reliability of their results.

The detailed requirements for a documented plan of a PT scheme are covered in TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.4.1.3, and the plan should also include reference to any relevant legislation. An example of a plan for a typical microbiology food examination scheme is given in Annex A.

The studies required to establish a new PT scheme are extensive and shall be clearly defined in the scheme objectives. These should include, as a minimum, the requirements listed in Clause 5. Requirements for checking individual rounds of testing, including homogeneity and stability testing, should also be established in the scheme design and be appropriate for the scheme objectives.

4.3. Laboratory requirements for schemes

General requirements for appropriate laboratory facilities to handle all aspects of PT schemes are given in TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.3.1, and safety requirements are covered in TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.6.2.4.

For microbiology schemes, providers shall have a documented policy to bring hazards to the attention of participants and ensure that relevant safety advice is given (see Clause 7). For example, food microbiology laboratories shall have facilities for dealing with microorganisms of risk categories 1, 2, and 3, as appropriate (see ISO 7218:2007, 3.2).

4.4. Choice of test matrices

General requirements to document test matrices in the scheme plan are given in TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.4.1.3, and choice of the matrices to reflect routine sample types in ISO/IEC 17043:2010, 4.4.2.3.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The description of the test items shall specify the sample matrix (natural or simulated); whether artificially or naturally contaminated; the source and country of origin to comply with international transport regulations; and any method of preservation used, e.g. freeze-dried, air dried.

4.5. Information on test methods used by the PT provider

The general requirements for methods to be used by the PT provider are given in TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.4.1.3.

If the scheme is targeted at one or more tests specified in or required by legislation, the routine quality control tests on the scheme samples (e.g. homogeneity and stability) shall be undertaken in accordance with the methods stipulated in that legislation and this shall be stated (TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.5.1).

Participants shall be encouraged to use their routine methods but, where they are undertaking tests in accordance with legislation, some degree of guidance shall be given, e.g. reference to ISO methods, legislative texts, or peer-reviewed publications (TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.5.1).

4.6. Statistical design

General requirements for statistical design are given in TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.4.4.

An outline of the statistical design for PT schemes for microbiology shall indicate that the statistical tests to be used are influenced by the level of homogeneity of the test material which, in turn, is influenced by the random variation in distribution of the microorganisms.

Except for low numbers, a log-normal distribution is usually expected in quantitative testing data and suitable statistical analysis methods shall be used for such data [ISO/IEC 17043:2010, B.3.1.4 d)]. Where low numbers are required in quantitative test items (e.g. water or beverage examination), a random Poisson model is more applicable, as the variation in numbers of organisms between different units of material becomes relatively large and can mask variations in performance.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Semi-quantitative enumeration tests and qualitative detection tests require different statistical methods to analyse data and these are discussed further in 8.3 and 8.4.

The scheme plan shall clarify distinctions between performance testing for methods for detection and those for enumeration of target microorganisms.

5. Technical requirements and guidance for sample design and content

5.1. Target organisms level

The target organisms shall be provided at levels suitable to show that examination methods are fit-for-purpose and to reflect levels likely to be found in the sample matrices being tested (TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.4.2.3). Where pathogenic bacteria are the target, the levels should also take account of and reflect the levels likely to cause hazard to human health and, if appropriate, any limits specified in microbiological criteria.

NOTE: The level causing hazard to human health is not always known with accuracy and depends on the susceptibility of individuals. The aim of examination for pathogens is to prevent illness, and also to detect pathogens at a very low level, before those pathogens can grow to a higher level.

For quantitative (enumeration) methods, the target level shall be appropriate for the levels routinely found in and any statutory specifications applicable to the sample matrices used. The target level should also sometimes be used near the limit of quantification of routine methods to challenge the performance of the participants across the applicable range of the method. However, samples should not be dispatched with organism levels so low that, when using routine dilutions, the expected mean number of organisms in a sample is fewer than 10 colonies per plate.

For qualitative (detection) methods, the target organisms shall generally be required to be at a sufficiently low level to provide a valid challenge to the methodology and to contribute data for validation exercises to establish or verify limits of detection for individual participant laboratories.

5.2. Sources, characterization and traceability of organisms

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Both typical and atypical strains should be considered and included in the scheme programme to challenge laboratory performance.

Recognized reference strains from international collections should be used where they are most suitable for the scheme purpose; however, laboratory isolates or “wild” strains isolated from the matrices used by PT schemes are useful to reflect routine situations more closely. Where these are used, they should be sufficiently characterized according to the appropriate standard reference methods, to ensure that any atypical reactions are apparent to the organizers before use.

In all cases, the organisms used in PT scheme samples should be traceable to the relevant culture collection or to valid characterization data held by the organizers.

Under certain circumstances, it is not possible to use reference cultures or materials from internationally recognized collections or cultured laboratory strains, e.g. for PT schemes for non-cultivable organisms such as human noroviruses. In such circumstances, clinical material can be used to contaminate a test matrix artificially, either through immersion, spraying or, in the case of bivalve shellfish, through bioaccumulation. The method of artificial contamination should be as close to the “natural” route of contamination as possible. Extreme care should be used when manipulating human clinical material, faecal or vomitus samples and these should be screened for additional pathogens before use. Target viruses should be fully characterized to strain level by conventional polymerase chain reaction followed by sequencing.

5.3. Background and competitive flora

The total flora of the samples, either naturally or artificially contaminated, shall be chosen to assess the ability of participants to detect and/or enumerate target organisms in the presence of non-target background flora (typical of the sample matrix) and presumptive target organisms which, without appropriate confirmation tests, can lead to false positive results.

Any strains used to simulate background flora shall meet the requirements of 5.2 for characterization and traceability. In naturally contaminated samples, the effects of any background flora on the target organisms shall be determined.

5.4. Matrix selection and effects

All matrices shall be evaluated before use to check for any effects on the target and background floras, e.g. where the matrices reduce the recovery of spiked organisms.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Sample matrices used for microbiology PT schemes are often, but not necessarily, sterilized before use. Where natural, unsterilized samples are distributed, the organizers shall determine the effect of the background microflora of the samples.

6. Sample verification by the provider

6.1. General

General requirements for sample verification are given in TCVN ISO/IEC 17043 and ISO 13528 (for information, see also Reference [9]); this clause expands the specific requirements and problems for homogeneity and stability testing in materials containing living microorganisms.

6.2. Sample homogeneity testing - General considerations

 (See also TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.4.3 and B.5.)

Proficiency tests may involve the preparation of a bulk test material, which is then subdivided into individual portions, as similar as possible to each other, for distribution to participants. Alternatively, test portions may be individually inoculated for distribution.

Whatever preparation method is used, the test material shall be assessed for homogeneity, usually prior to but also at the time of testing for unstable fresh materials.

A homogeneity test should be performed on each batch of samples, based on relevant statistical principles (TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.4.3.2 and B.5). Such tests are given in ISO 13528 or, as an alternative, Annex B.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



A test material which is less than sufficiently homogenous may still be used in a proficiency test round (TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.4.3.1 Note 3), provided suitable statistical principles are used to take account of the greater variance between samples (see ISO 13528). A statistical plan for heterogeneous materials, including replicate analysis of several samples [(see TCVN 6910-5 ISO 5725-5)], should be used to minimize the effects of lack of homogeneity on the evaluation of participant performance.

6.3. Homogeneity testing for quantitative (enumeration) samples

General requirements and procedures for testing homogeneity of quantitative proficiency test materials are given in TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.4.3 and B.5 and ISO 13528.

Materials that show between-unit variation large enough to affect the assessment of laboratory performance significantly should not be used in interlaboratory studies, unless special requirements and methods of data analysis apply, e.g. low numbers of microorganisms in drinking water and other samples.

The criterion for “sufficiently homogenous” is defined by the requirements of the interlaboratory comparison (see ISO 13528 and Annex B). However, in general, a material for which the between-unit standard deviation (on the appropriately transformed scale) is ≤ 0,3 sp, where sp is the target standard deviation used to assess the performance of laboratories, is considered sufficiently homogenous (see ISO 13528).

Any alternative homogeneity test should meet the following criteria (reproduced from Reference [9]):

a) the probability of rejecting a sufficiently homogenous test material should be ≤ 5 %;

b) the probability of rejecting a test material where between-unit variation is 1,5 sp, in which sp is the acceptable between-laboratory variation (expressed as a target standard deviation), is W 80 %.

An 80 % probability of rejecting a material where between-unit variation is 1,5 sp is based on simulation studies of the duplicate analysis of 10 test units using a method with an analytical standard deviation of 0,5 sp (i.e. 0,125 log units) and a critical value for T2 (see Annex B) that meets criterion a) in the previous paragraph. It represents what is achievable with a reasonable amount of analytical effort.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The analytical (repeatability) variance should be estimated from replicate analyses of the initial suspensions obtained from test portions (References [15][16]). This analytical variance can also be calculated from the number of counted colonies and the precision of analytical materials in use (Reference [10]).

In microbiology, the between-unit variance shall be estimated under repeatability conditions (in one run). If that is impossible, the between-unit variance includes the within-laboratory reproducibility and can perhaps lead to the false rejection of a satisfactory material.

When the number of counted colonies is sufficiently high (more than 35 to 40 colonies per plate), the analytical standard deviation, san, generally satisfies:

where sp is the target standard deviation, and the test for sufficient homogeneity proposed in Reference [11] should be used (see Annex B). If the number of counted colonies is low (fewer than 35 to 40 colonies per plate), the T1 − T2 test is recommended (see Annex B).

When replicated test units are provided to participating laboratories, the between-unit variability obtained by participants should be examined by the provider to assess the homogeneity of the material. Although this variability includes within-laboratory reproducibility, the higher number of participating laboratories increases the statistical power of the analysis and can be a good indicator for successive rounds.

When the number of counted colonies is low (say fewer than 20), the analytical (repeatability) variance is high. In that case, the provider should recommend that participating laboratories replicate enumerations of test portions to satisfy the condition (see ISO 13528):

where:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



sp is the target standard deviation;

n is the number of replicates.

If that is impossible, the laboratory performance should be assessed cautiously.

Where the PT material contains low numbers of cfu (say fewer than 20), the between unit (i.e. between replicate samples) variation shall be measured to demonstrate that it does not exceed random (Poisson) variation in order to provide a meaningful assessment. The index of dispersion test on n samples (where n is a minimum of 10) should not exceed the value at 0,05 probability.

6.4. Homogeneity testing for qualitative methods

Similar principles apply to homogeneity testing for qualitative (presence/absence) methods, but special consideration is required where the level of spike is low (see 8.4).

The homogeneity of qualitative samples may be tested by enumerating the spike. It may also be possible to determine the contamination level by using a most probable number (MPN) technique. If enumeration is possible, the homogeneity tests detailed in 6.3 may be used, depending on how the samples are artificially contaminated and on how the spike is enumerated.

6.5. Stability testing by the provider

6.5.1. General

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



If the same type of sample with the same test strain(s) is always used, it is sufficient only to perform a verification (e.g. by checking after preparation and at the date of the study) on subsequent samples. The provider should also examine results obtained by the participating laboratories to check the stability of the material during the period allowed for the study.

6.5.2. Stability during storage conditions

For stable samples which are always stored at low temperatures (e.g. −70 °C, −20 °C, +5 °C), the stability shall be determined by checking the level of the analyte and the homogeneity of each batch at regular intervals during storage. The minimum period for stability testing should be the time between preparation of the materials and the specified date or time period of analysis.

Frequency of testing depends on the information already available for the batch of samples and the total period of time over which stability information is required. If the total storage time is, for instance, only two weeks, it may be necessary to test every two days, but if storage is required for one year, it may be sufficient to test monthly. For large batches of samples, a minimum of three samples should be tested on each occasion in order to show ongoing stability across the whole batch (ISO 13528:2005, Annex B). Whatever frequency of testing is used, this shall be justified and validated as acceptable by the scheme organizers.

6.5.3. Stability during transport conditions

In addition to information on stability during storage conditions gathered during validation studies for a new scheme, it is also important to test the effect of “abuse conditions” on the samples, e.g. long transport times at elevated temperatures (see TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.6.3.2).

A stability test using different temperatures to reflect “worst case” transport conditions and maximum expected delays, shall be performed initially to test the effect of such abuse on test samples. For example, samples of one batch are stored at the specified storage temperature (e.g. −20 °C), but also at +5 °C, +15 °C and +25 °C. Every day, five samples held at each storage temperature are analysed for a total period of one or two weeks.

The design of such stability experiments is variable but should be appropriate to obtain information on the effect of different storage temperatures on the samples and to establish any upper temperature limit for receipt by the laboratory. The information obtained can be used to choose the optimal distribution conditions for the scheme samples, e.g. whether it is necessary to cool the samples during transport using dry ice or ice packs, or whether ambient distribution is acceptable.

For temperature-critical distributions requiring controlled refrigeration with strict sample acceptance criteria, such as schemes in support of legislative testing for E.coli in bivalve shellfish, inclusion of individual temperature loggers in each sample box to record the sample temperature in transit is recommended. Checking the temperature data may enable the scheme provider to explain anomalous results returned by participants.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



7.1. General

Requirements for general sample handling are detailed in TCVN ISO/IEC 17043:2010, 4.6.1 and 4.6.2, and only additional information relevant to microbiological samples is given in this clause.

7.2. Instructions to participants

For each study, each participating laboratory shall receive a clear set of instructions covering:

a) storage conditions for samples of all types, particularly information on the storage temperature, which should also appear on the outside of the transport packaging;

b) maximum temperature of the samples on receipt at the participant laboratory, if appropriate;

c) instructions on how to handle the samples — if reconstitution, dilution or other processing of the samples is required, this should be described clearly for each set and type of samples;

d) appropriate safety data sheets, which should be included with each distribution (an example of the detail required is given in Annex D);

e) other supplementary instructions, such as:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2) the method(s) of examination (prescribed or participant choice, as required);

3) how to report the results to the organizers, particularly the units of measurement;

4) the organizers may request details on materials, methods, incubation conditions, etc., in report proformas - if this is the case, instructions for completing such proformas should be provided.

8. Performance evaluations

8.1. General

Wherever possible, the statistical principles used to evaluate performance in PT schemes should be based on those given in standards, such as ISO/IEC 17043:2010, 4.7 and ISO 13528 (for information, see also Reference [9]), although microbiology PT schemes may adopt procedures which differ from those commonly used in other sectors if they are appropriate to their particular schemes.

8.2. Preliminary considerations

Proficiency testing involves the regular distribution of test materials to participating laboratories for them to examine the test materials for specific measurands (in most cases microorganisms). The results of examination are then compared against those of other participants.. Proficiency testing therefore provides an independent means of testing and comparing individual performance.

Ongoing satisfactory performance in proficiency test rounds can provide reassurance to participants of their laboratory processes, including methods of examination, analyst training, equipment, reagents, quality control procedures, interpretation of results, and reporting techniques.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



There are many different ways to interpret data from proficiency testing but methods for interpretation shall be objective.

The majority of participants taking part in microbiological PT schemes are not familiar with statistics and shall have confidence that the procedures used by the PT scheme organizers are sound.

The following considerations about the statistical principles applied shall be addressed:

a) validity;

b) explanatory information for participants;

c) reasons for selection;

d) consistency.

Clear and unbiased information shall be provided to participants to allow self-assessment and interpretation of results and to maximize the benefit from participation.

8.3. Quantitative methods

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The statistical design for PT schemes for microbiological enumeration methods is influenced by the level of homogeneity of the test material, which in turn is influenced by the random variation in distribution of organisms. In addition, there are likely to be substantial differences between the participants in the precision required or expected of a test.

The choice of statistical method shall take into account the factors outlined in 8.1 and 8.2, together with other considerations such as the number of participants in a particular scheme. Parameters that contribute to deciding which statistical tests are to be used for analysing results should be stated. For example, specialized schemes may have fewer than 30 participants; results from 30 participants may be analysed in a different way from larger schemes with, for example, more than 100 participants.

The chosen method of statistical analysis shall be appropriate for not only the number of participants undertaking an examination but also the method used. For example, results for an examination using colony count methods are analysed in a different way to those where determination of the MPN is required. This is because the inherent variation in the MPN method tends to be greater than that for colony count methods. Indeed, different statistical parameters may be needed to assess participants' performance for different tests within a single scheme (see ISO/IEC 17043:2010, 4.5.2). This shall be stated in the scheme design documents and generally accepted microbiological criteria shall be referenced in the scheme plan.

Suitable statistical analyses and allocation of scores to participants are covered in TCVN ISO/IEC 17043:2010, Annex B.

8.3.2. Distribution of data

When an enumeration test is repeated several times, under repeatability conditions, the frequency distribution of the results would be expected to form a bell-shaped curve, called a normal distribution.

Microbiological counts usually follow a log-normal distribution and the data are converted to logarithm to the base 10 values to produce a normal distribution curve. However, for low bacterial numbers, actual counts may be used, or a square-root transformation may be applied.

KEY:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



m mean

s standard deviation

Figure 1 - Diagram of a normal distribution

Although it is the same material under test, the results are not all identical, as numerous small, independent variations are expected to occur during the different manipulations involved in performing the tests.

In proficiency testing, the tests are not usually performed under repeatability, or even reproducibility conditions. Tests are performed by different analysts, at different test locations and at different times, using a variety of equipment, media, reagents and analytical methods and this results in further variability which could be described as “super-reproducibility” or “over-reproducibility” conditions because the term reproducibility is usually used in the context of a single method only.

Despite such variations in test conditions, a (log-)normal distribution of the results is usually observed and the principles of statistics appropriate to (log-)normal distributions should be used to interpret the data, provided the distribution is roughly symmetrical and unimodal.

If the distribution of data does not appear (log-)normal, the possible reasons should be assessed and the data interpreted accordingly using other suitable tests.

8.3.3. Determining the assigned value

The purpose of proficiency testing is to assess how proficient participants are in achieving the “correct” result. However, in many proficiency testing schemes, it is not possible to know the “correct” result, as numerous analysts may all examine the same test material and all return a slightly different result.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The most usual method for microbiological PT schemes is consensus values from participant laboratories. The assigned value is determined from the robust mean or the median of the results of all participants The use of robust methods is intended to minimize the influence of outliers, so that such results need not be excluded from the data because “true” outliers may be difficult to identify.

The assigned value has a higher uncertainty than with other methods, but this is taken into account when assessing performance. The assigned value is deemed to be fair because all participants' results contribute to the calculation

If a low overall median is produced where assigned values are set from participant consensus (e.g. because a large number of participants had difficulty isolating or identifying a particular organism), the scheme organizers should comment accordingly, so that the performance of participants whose results were not affected is correctly judged.

8.3.4. Uncertainty of the assigned value

The assigned value represents the best estimate of the “true” value. It has a standard uncertainty indicating the level of confidence in this estimate. If the standard uncertainty of the assigned value is too large in comparison to the standard deviation of the test round, then some participants receive action and warning evaluations, not because of their performance but instead due to the large uncertainty in the assigned value.

Criteria for the acceptability of an assigned value in terms of its uncertainty should therefore be established. A number of methods for estimating this uncertainty and determining acceptability are available and are described in ISO 13528.

8.3.5. Methods of assessing performance

The organizer of the PT scheme shall determine the assigned value and assess by how much the result(s) from each individual participant deviate(s) from that assigned value compared with the results from all other participants. Thus participant performance is judged not against the “correct” result, but against statistical estimates of the “correct” result derived from all of the submitted data. The larger the number of data, the more accurate such statistical estimates are likely to be.

Common methods of assessing performance and allocating scores are detailed in TCVN  ISO/IEC 17043:2010, B.3 and ISO 13528.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



8.3.6.1. General

A common and widely accepted method used in proficiency testing is the z-score system, as this is relatively easy to calculate and interpret (see TCVN ISO/IEC 17043:2010, B.3). The z-score indicates how many standard deviations away from the mean a given value lies, e.g. a z-score of 2 represents a value which is 2s, where s is standard deviation, from the mean.

As depicted in Figure 1, data with a standardized normal distribution have 95 % of values within 2 σ of the mean and 99,7 % of values within 3 σ. Results with a z-score greater than 2 are therefore considered questionable because only 5 % of correct measurements are expected to be that different from the assigned value. Results with a z-score over 3 are considered unsatisfactory because only 0,3 % of correct measurements are expected to be that different from the assigned value (see TCVN ISO/IEC 17043:2010, B.4).

8.3.6.2. The target standard deviation for z-score calculations

The z-score calculation uses a target value for standard deviation. This target standard deviation defines the scale of acceptable variation among laboratories for each particular test. The same target standard deviation should be used over successive rounds of the proficiency test so that scores may be compared from round to round. There are a number of methods for establishing the target standard deviation, detailed in Reference [9], TCVN ISO/IEC 17043:2010, B.3 and ISO 13528.

8.3.6.3, Multiple results in z-score systems

Differences between participants' results arise from between-laboratory variation and also from within-laboratory variation. Within-laboratory variation or intra-laboratory variance is the variation between measurements made by the same laboratory on the same sample and is an inherent feature of microbiological examinations. Within-laboratory variation is measured by the repeatability variance.

When a participant laboratory reports multiple results for a single test material, this may potentially bias the remaining data from other participants. For example, if 10 analysts from the same laboratory all tested the same sample, which had been incorrectly diluted initially, all 10 results would be incorrect. This number of incorrect results becomes a subset within the bulk data, and may bias all the other results. To avoid such bias, only one reported result per laboratory should be included in the overall analysis of data for a distribution.

When a participant laboratory has obtained multiple results from a single PT sample, these results shall be reported separately and not as a mean value. Where only one result per participant is permitted by the scheme organizers, the individual result to be reported shall be chosen before the examination is undertaken and results are known.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



8.3.7.1. General

Although z-scores are very commonly used for evaluation of PT scheme results from enumeration methods, other methods of scoring may be appropriate for particular schemes.

For example, with samples where low counts are sought (such as drinking water) the statistical assessment can be based on a model which predicts random variation. Thus “low” or “high” tail-end counts are defined using the Poisson formula. Low or high results can occur occasionally by chance in any laboratory, but an accumulation of tail-end results indicates poor performance. The advantages and disadvantages of a model versus a percentile approach to statistical assessment are discussed in Reference [17].

With schemes where high counts are expected, the 0,5 log10 rule or the percentile approach can be used, but the median absolute deviation method is required for schemes with low numbers of participants. These are briefly outlined in 8.3.7.2 to 8.3.7.4.

8.3.7.2. Using the 0,5 log10 rule

A scoring system based on the 0,5 log10 rule can be used for colony counts (adapted from Reference [13]). In summary, the 95 % confidence intervals around a mean colony count are generally not more than ±0,5 log10 cfu. Internal quality control procedures for microbiology laboratories commonly require replicate counts to show agreement to not more than 0,5 log10 units to demonstrate good control. This is applied to participants' results such that all results within ±0,5 log10 units of the participants' median are considered as acceptable and are allocated the maximum score. This rule allows participants' scores to improve over time if the overall quality of participants' enumerations also improves.

The 0,5 log10 rule is based on microbiological criteria but is also statistically valid because if the expected count on a plate is 10 colonies, and organisms are randomly distributed, then 95 % of results should show between 3 and 17 colonies. On a decimal logarithm scale, the expected median count is 1, the lower limit is 0,47 and the upper limit is 1,23, i.e. the lower and upper limits are within 0,5 log10 units. Therefore, a result of within ±0,5 log10 units of the expected value should be deemed acceptable.

8.3.7.3. Using percentiles

Percentiles can be used to identify outlying counts for enumerations when W 50 participants undertake an enumeration using a colony count procedure. This entails calculation of the 5th, 10th, 90th, and 95th percentiles of the distribution of participants' results (C5, C10, C90, and C95 respectively). C5 and C10 should be rounded down to the nearest 0,05 log10 unit (e.g. 2,23 rounds to 2,20), whereas C90 and C95 should be rounded up (e.g. 3,36 rounds to 3,40). An example of how scores might be allocated (e.g. for aerobic colony counts) is outlined below:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



- Results between C5 and C10 or C90 and C95:             Score = 1

- Results below C5 or above C95:                                 Score = 0

Application of the 0,5 log10 rule may extend the acceptable range and therefore upgrade the scores allocated for some results in C5, C10, C90 and C95.

The percentile method is robust and does not depend on the actual distribution of decimal logarithm counts being normal. It enables a clear interpretation of the performance assessment.

If the number of participants in an established PT scheme falls to fewer than 50 laboratories or the number of participants reporting enumeration results for a particular parameter falls to less than 50, then median absolute deviation (MAD) values (see 8.3.7.4) should be used instead of percentiles.

8.3.7.4. Using median absolute deviation from the median values

The MAD method is used to identify outlying counts when fewer than 50 participants undertake an enumeration. Percentiles should not be used because fewer than 50 results provide insufficient data to calculate valid values for C5, C10, C90 and C95. MAD values provide a robust method for calculating the acceptable range when assessing participants' results and allocating scores. The analysis requires calculation of the median difference from the median for every result which is then multiplied by 1,4826 to get a robust estimate of the standard deviation (MAD value), sMAD.

An example of how scores might be allocated using MAD values is outlined below:

- Results within participants' median ± 2sMAD: Score = 2

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



- Results outside ± 2,58sMAD: Score = 0

As with percentiles, the lower limits should be rounded down to the nearest 0,05 log10 value and the upper limits up to the nearest 0,05 log10 value.

Note that, unless the 0,5 log10 rule is applied, approximately 5 % of laboratories should be outside the ± 2sMAD range and 1 % outside the ± 2,58sMAD range (assuming normality of the decimal logarithm counts without extreme outliers).

The MAD method should be used for new PT schemes where there are fewer than 100 participants.

8.3.7.5. Special considerations for most probable number methods

The test method used to determine an MPN value has greater inherent variability than colony count methods and is therefore often regarded as only semi-quantitative. However, it is sometimes required for the detection and estimation of levels when low levels of microorganisms are expected, especially when the microorganisms may be stressed (e.g. as a result of processing or freezing). Also, MPN methods are stipulated in legislation or criteria for the microbiological examination of certain products such as dairy products and live bivalve molluscs and other shellfish.

Any method for assessing participants' results for determining MPN values should allow for the inherent variability of the MPN, and assume that the sample is well mixed prior to testing.

For the three-by-five tube method, the standard deviation of a log10 MPN result is approximately 0,24, provided results do not show “extreme” tube combinations, e.g. tube combinations of 3, 0, 0 to 5, 5, and 2 [see TCVN 6404 (ISO 7218)].

For the three-by-three tube method, the standard deviation of the log10 MPN result is approximately 0,32, provided results do not show “extreme” tube combinations, e.g. tube combinations of 2, 0, 0 to 3, 3, and 1.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



However, in practice there is some between-laboratory variability. Analysing a number of sets of data has shown this to inflate the variance by about 2,5-fold (and hence the standard deviation by about 1,58-fold).

Therefore the limits of acceptability for participants' results for MPN determinations should be raised to ±3s and ±5s (see Table 1).

Table 1 - Limits of acceptability

Limit of acceptability

Three-by-three method

Three-by-five method

± 3s

± 0,96 log10 (9,1-fold)

± 0,72 log10 (5,2-fold)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



± 1,60 log10 (39,8-fold)

± 1,20 log10 (15,8-fold)

The 0,5 log10 rule should never need to be applied to MPN results due to the inherent method variability.

It is also possible, for the MPN method, to check that the tube combinations and dilutions reported are consistent with the MPN reported using tables [see TCVN 6404 (ISO 7218)].

If the PT scheme or the legislation on which it is based requires MPN values to be determined in duplicate, the results can be compared and if the tube combinations are credible, then the difference between the two results should not differ, in terms of decimal logarithm units, by more than 2,58 x  x 0,24 = 0,88 for the three-by-five tube method and 2,58 x  x 0,32 = 1,17  for the three-by-three tube method.

If two distributions with two replicates per distribution are compared, then the mean of the two should not differ, in terms of decimal logarithm units, by more than 2,58 × 0,24 = 0,62 for the three-by-five tube method and 2,58 × 0,32 = 0,83 for the three-by-three tube method.

8.3.8. Long-term performance assessment

8.3.8.1. General

Performance assessment in proficiency testing schemes is generally confined to assessment of results from single rounds, but there are instances where assessment in the longer term may be beneficial. Whilst this generally applies to external quality assessment schemes, some guidance is given for the sake of completeness.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



 “Low” and “high” counts should be defined according to objective rules (e.g. Poisson model-based definition for low counts, percentiles or other methods for high counts), then used to determine those laboratories reporting such results more frequently over time than could be expected by chance.

Scheme organizers should encourage participants to exercise their own professional judgment to assess information supplied in reports, thereby self-assessing their performance. Organizers may suggest to their participants various ways of undertaking laboratory self-assessment but they should not dictate criteria for self-assessment by an individual laboratory; rather these should be set by each individual participating laboratory, based on what it believes to be microbiologically significant in the context of its own routine work and client requirements.

8.3.8.2. Low count assessments

f chance is the only factor involved, the “tail-end” counts should be distributed at random. The results may be scrutinized to determine the scatter of tail-end results, between laboratories over a series of samples (e.g. using Cochran's Q-test).

If they are not distributed at random, a second stage analysis may be performed to determine the expected distribution of tail-end counts, amongst those laboratories reporting them, if they were simply due to natural variation between samples and not to laboratory performance effect. Then, contrasting those expected numbers of laboratories with the number actually observed highlights those laboratories that may have experienced problems. An example of performance assessment for samples containing low numbers is given in Table 2.

Table 2 - Observed and expected numbers of sets of results assuming random distribution of low results (from a distribution of low levels of Clostridium perfringens in drinking water samples, where variation in numbers between test items may necessarily exceed laboratory performance variation)

No. of “lows”

Observed

Expected

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



58

58

1

32

48,56

2

18

16,94

3

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3,15

4

3

0,33

5

2

0,02

Total

127

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



One or two low results could have been due to chance; three were possibly not due to chance; four or more were unlikely to be due to chance and procedures should be checked.

8.3.8.3. High count assessments

Assessment of higher counts relies on similar principles, but less variation in participants' results due to variation in sample content is expected.

Long-term performance with, for example, the percentile method of evaluation, can be assessed over 12 samples, allowing a maximum score of 24 points. Participants are set a performance target of at least 70 %. If the 0,5 log10 rule is discounted and an assumption is made that all participants are capable of delivering equivalent performance, then using multinomial theory, it can be shown that the probability of a participant obtaining a cumulative score that is less than 70 % of the maximum possible score is 5,2 %. This means that under these circumstances, approximately 1 in 20 participants may be identified incorrectly as “poor performers”. In reality performance is not equivalent and some laboratories do experience difficulties with the examinations that they undertake, so the probability of a satisfactory performance being incorrectly identified as “poor” is much lower than this. Furthermore, the use of the 0,5 log10 rule reduces this probability to less than 0,1 %.

A practical example of long-term performance assessment using spreadsheets is shown in Annex C.

8.4. Assessment of qualitative methods

8.4.1. General

For interlaboratory comparison studies in which one or more qualitative methods are used, the results are in fact black or white, yes or no, detected or not detected.

Methods of statistical analysis for this type of result are limited, but various options have been proposed, such as LOD50, accordance or concordance assessments and percentage accuracy, and the optimal approach is still under consideration.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



A simple method for self-assessment by participant laboratories is to record the number of positive and negative results they have found, together with the number of positive and negative results which were expected. This information should be linked with records of the levels of target organisms in the samples to assess performance and also provide ongoing data on the limit of detection of the method in individual laboratories.

As the result of a presence/absence test is a yes or no, many samples need to be tested in order to assess the performance of the individual laboratories in a PT scheme. Each participant should test at least 18 samples in total. These 18 samples consist of six replicates of three different levels of contamination of the samples. The three levels are: negative (check on the occurrence of false positive results due, for example, to cross contamination); low level [meaning samples contaminated at or slightly above the detection limit for the method used, which ideally should be at the level where 50 % of the samples are found positive; and 50 % negative (LOD50)] and high level (this level should be 10 times higher than the low level and represents the level at which all samples tested should be found positive).

The interpretation of the data is simple:

a) for the negatives: all samples should be found negative;

b) for the high level: all the samples should be found positive;

c) for the low level: it can be calculated (see Table 3) using the binomial distribution and the percentage of samples found positive (can be obtained from a reference value from the organizer or as a best estimate from the results of all participants) at a 95 % confidence level.

Table 3 - Chance of finding a certain number of positives out of six samples tested as a function of the average percentage of positive samples (binomial distribution)

Number of positives out of six samples

Average percentage of positives

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

0

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



26,2 %

11,8 %

4,7 %

1,6 %

0,4 %

0,1 %

0,0 %

0,0 %

1

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



39,3 %

30,3 %

18,7 %

9,4 %

3,7 %

1,0 %

0,2 %

0,0 %

2

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



24,6 %

32,4 %

31,1 %

23,4 %

13,8 %

6,0 %

1,5 %

0,1 %

3

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



8,2 %

18,5 %

27,6 %

31,3 %

27,6 %

18,5 %

8,2 %

1,5 %

4

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1,5 %

6,0 %

13,8 %

23,4 %

31,1 %

32,4 %

24,6 %

9,8 %

5

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



0,2 %

1,0 %

3,7 %

9,4 %

18,7 %

30,3 %

39,3 %

35,4 %

6

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



0,0 %

0,1 %

0,4 %

1,6 %

4,7 %

11,8 %

26,2 %

53,1 %

Example: To use Table 3, first the average percentage of positives has to be known. Here it is assumed to be 30 %, meaning that about one out of three samples contains the target organism. As only 30 % of the samples contain the target organism, it is likely that some of the samples might not contain the target when, for example, six samples are tested.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Another reasoning is that the chance of finding six out of six positives is only 0,1 %. This is very unlikely to happen purely by chance. As the uncertainty is set at a maximum of 5 % (100 % – 95 % confidence level), this falls within this limit. The same occurs for the situation when five or six samples out of a total of six are found positive. The sum of these chances is 1,1 % which is still below the 5 % limit. Only when the situation where four out of six are positives (6 %) is added does the uncertainty exceed the 5 % limit. As the maximum is set at 5 %, the situation of five or six positives out of a total of six tested is regarded as an unexpected result.

NOTE: At LOD50, 50 % of the samples are found positive. In theory [taking into account that the method used is capable of detecting a single microorganism in a sample and assuming a homogeneous (Poisson) distribution between the samples] the average contamination level of the samples is expected to be 0,7 microorganisms per sample in order to reach the LOD50. In practice, the ideal homogeneous distribution is often not reached and relatively more of the samples do not contain any (viable) microorganism than could be expected for a true homogeneous distribution. In order to obtain 50 % of positive samples, an increase in the average level of contamination is required, based on experience with the material used in the study.

8.4.3. Scheme comparisons of laboratory performance

To compare the performance of one laboratory against other participating laboratories, the scheme organizers may calculate the numbers (or percentages) of positives for the levels contaminated with the target organism found per test sample by each laboratory (reported by laboratory code). An example of such data is given in Figure 2. In this study 28 laboratories participated (indicated as lab codes on the NL-axis of Figure 2). Each laboratory analysed 22 chicken faeces samples, artificially contaminated with reference materials containing two different Salmonella serovars at four different contamination levels (varying from 10 to 500 cfu per sample). In Figure 2 the results are summarized for the sample with the low level of contamination (n = 14). The number of positives found in the participating laboratories varied from 0 to 11 samples (n+ -axis in Figure 2).

In addition to this more descriptive way of presenting the results, it is possible to calculate specificity rates, sensitivity rates and accuracy rates per level of contamination of the samples (ISO 16140[4]). These rates may be calculated for each laboratory and for the results from all laboratories.

KEY:

NL lab code

n+ No. of positives

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The specificity rate, rSP, is given by:

where:

n_ is the number of negative results found;

E(n− tot) is the total number of expected negative samples.

The sensitivity rate, rSE, is given by:

where:

n+ is the number of positive results found;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The accuracy rate, rAC, is given by:

where ntot is the total number of samples.

This assessment is only meaningful if linked with the number of target organisms present.

 

ANNEX A

 (informative)

EXAMPLE OF DETAILS TO BE INCLUDED IN A PT SCHEME PLAN

PT scheme plan - Summary of scheme

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Food examinations scheme

 

 

Scheme type:

Food microbiology

Aims:

To provide external quality assessment samples for general routine examinations undertaken by food microbiology laboratories

Criteria for selection of participants:

Food microbiology laboratories with laboratory facilities adequate for dealing with pathogenic microorganisms of risk categories 1 and 2

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Food microbiology laboratories in the private and public sectors

Legislation:

EU Regulation 882/2004 concerning the official control of foodstuffs

Sample type:

Freeze-dried microorganisms in evacuated glass vials

Examinations:

Presence/absence:

Campylobacteria spp.

Escherichia coli O157

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Enumerations:

Aerobic colony count

Bacillus cerius

Clostridium perfringens

Coliforms

Enterobacteriaceae

Escherichia coli

Listeria monocytogenes

Coagulase positive staphylococci

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Realistic microflora simulating that of real foods and providing a realistic challenge to routine food microbiology procedures

Target number of participants:

More than 200

Number of distributions per year:

Six (6)

Number of samples per distribution:

Two (2)

External subcontractors:

None

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Named individuals

Quality control testing of sample batch:

Name of provider laboratory and standard methods used. 25 samples from every batch examined for all tests specified

Statistical methods:

Consensus median (enumerations)

Percentiles to identify outliers

Allocation of scores:

Yes

Criteria for scores:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Continuous performance assessment:

Yes

Criteria for identifying “poor performers”:

Less than 70 % maximum possible score over six distributions

Proactive approach by organizers to “poor performance”:

Yes

Method assessment:

Yes - for indicators only

Scheme co-ordinator or deputy to sign/date

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Date

Promotional literature authorized:

Date

Costing approved:

Date

Accreditation dated:

Date

Other comments:

Review at steering group meeting

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



ANNEX B

 (informative)

METHODS OF TESTING FOR VARIATION BETWEEN PORTIONS OF TEST MATERIALS

B.1. T1  − T2 test

This test is recommended for cases where low numbers of organisms are present in portions of test materials (TMs) at levels up to 35 to 40 cfu per plate or where no “target standard deviation” can be assigned for assessing sufficient homogeneity.

The variation between analytical portions from one (reconstituted) unit of TM, T1, and that between analytical portions from different (reconstituted) units of one batch of TM, T2, is tested in different ways. Details can be found in Reference [12], but a summary is given here.

For the determination of the variation between analytical portions of one (reconstituted) unit of an TM (replicate testing), the T1 test statistic is applied:

             (B.1)

where:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



zi+ is the sum of numbers of cfus in all analytical portions of unit i

                     (B.2)

J is the number of analytical portions per unit.

For the determination of the variation between analytical portions from different (reconstituted) units of one batch of TM, the T2 test statistic is applied:

                            (B.3)

where:

z++ is the sum of numbers of cfus in all analytical portions of the tested units of one batch of TMs

I is the number of units tested.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



For the variation between units of one batch of TM, the Poisson distribution is the theoretical smallest possible variation that could be achieved. However, overdispersion is expected and  is mostly larger than 1 (Reference [12]). An acceptable variation between units of a batch of TM is  ≤ 2.

EXAMPLE

Given the following data:

Unit:

 (duplicate) counts:

1

z11 = 45        z12 = 49

2

z21 = 33        z22 = 42

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



z31 = 40        z32 = 42

I = 3 (three units)

 

J = 2 (two replicates)

 

z1j/J = (45+49)/2 = 94/2 = 47

 

z2j/J = (33+42)/2 = 75/2 = 37,5

 

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



T1 should follow a -distribution with I(J − 1) = 3 × (2 − 1) = 3 degrees of freedom.

Tested two-sided at the 95 % confidence level, the lower and upper limit for this distribution are, with 3 degrees of freedom, 0,22 and 9,3, respectively. The calculated T1 value (1,298) follows these criteria.

Accepted variation for the batch is: T2 /(I - 1) ≤ 2.

Here T2 /(I - 1) = 2,206/(3 - 1) = 1,103 and thus follows the criteria for acceptability of the batch.

B.2. Test for sufficient homogeneity

This test is recommended for cases where larger numbers of organisms (more than 35 to 40 cfu per plate) are present in portions of the test material and a target standard deviation, sp, that describes the performance expected of PT scheme participants is available. It is based on the “sufficient homogeneity” test of Reference [11].

Given a set of test material portions analysed in duplicate with results expressed in log units, the test is passed if the between-portion variance, S2sam, satisfies Condition (B.5):

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



where S2an is the analytical variance. This test is less likely than that of T1 − T2 to lead to the rejection of a test material that is not perfectly homogenous (analytical results follow the Poisson distribution), but is sufficiently homogenous to be used in a proficiency test round with a target standard deviation of sp. This is because materials are accepted unless it is shown with high confidence (95 %) that the fitness for purpose criterion of ssam > 0,3 sp, where ssam is the standard deviation of which ssam is an estimate.

EXAMPLE:

Given quantitative results from the duplicate analysis of 10 test material portions, calculate the difference (D) and sum (S) and the square of D (D2) of the decimal logarithm of each set of results (Table 1).

Portion

Analysis 1

Analysis 2

Log analysis 1

Log analysis 2

D

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



D2

1

35

51

1,5441

1,7076

-0,1635

3,2516

0,026733

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



52

46

1,7160

1,6628

0,0532

3,3788

0,002835

3

35

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1,5441

1,5185

0,0256

3,0626

0,000653

4

53

38

1,7243

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



0,1445

3,3041

0,020878

5

30

40

1,4771

1,6021

-0,1249

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



0,015610

6

33

30

1,5185

1,4771

0,0414

2,9956

0,001713

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



41

60

1,6128

1,7782

-0,1654

3,3909

0,027346

8

35

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1,5441

1,7404

-0,1963

3,2844

0,038532

9

68

67

1,8325

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



0,0064

3,6586

0,000041

10

52

60

1,7160

1,7782

-0,0621

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



0,003362

Calculate the sum of D2 and divide it by twice the number of portions. This is the mean sum of squares of within sample variation, 

In this case,  = 0,138 2/20 = 0,00691.

Calculate the variance of and divide it by two. This is equal to .

In this case,  = 0,04224/2 = 0,02112

Then S2an =  and S2sam = ( -)/2

In this case,  S2an = 0,00691 and S2sam = (0,02112 - 0,00691)/2 = 0,007104

Values for F1 and F2 depend on the number of portions examined in the test. For 10 portions F1 = 1,88 and F2 = 1,01 (values for other numbers of portions may be found in Reference [11]).

If the target standard deviation to be applied to the proficiency test results, σp, is equal to 0,25 log10 units then

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



This value is larger than S2sam (0,007104). Hence Condition (B.5) is satisfied and the test material is sufficiently homogenous.

 

ANNEX C

 (informative)

A PRACTICAL METHOD TO ASSESS LONG-TERM PERFORMANCE OF PARTICIPANTS IN PT SCHEMES USING ENUMERATION METHODS

C.1. Preparing data for analysis

Four columns of a spreadsheet are required to analyse enumeration results:

a) the count as reported by the participant (nR-count);

b) the count to be used for charts and histograms and/or for scoring (nS-count);

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



d) a comment column (text field) (nC-count) for recording any notes about participants' results.

The nR-count should normally be entered as a numerical field (e.g. 1 100) or a scientific number (e.g. 1.1e3). If the result is reported as a censored value, then a text field shall be used and a “less than” or “greater than” symbol entered in front of the number (e.g. < 10, > 1 100, etc.).

The nR-count may also be entered as other text such as NE (not examined), ND (not detected), and UA (unassessable). Entries shall be made for all fields in the column.

If the nR-count cannot be analysed (e.g. entered as NE) then there is no further analysis or allocation of score.

If the nR-count cannot be included in the statistical analysis, e.g. the result was reported as a censored value, but a score is to be allocated and/or the result is to be plotted, then a numerical value shall be assigned to the ns-count.

This value shall ensure that the correct score is allocated and that the result is plotted correctly. For example, scores may not be allocated to results reported as “not detected” but it may be helpful to include those results on a chart. In this case, the ns-count may be entered as −99 and the nA-count should be left blank.

If a reported result is to be allocated, a score is to be included in the statistical calculations; then the nA-count = ns-count.

C.2. Dealing with censored data

All low censored results are analysed in one of the following ways.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) All low censored values and results of zero or “not detected” are assigned an ns-count of 0,21) and included in the analysis because the level of the target organism or group was relatively low and those results may have arisen by chance (ns-count = nA -count = 0,2). There are exceptions, such as when the reported low censored value (<x) shows an inappropriate level of detection and the value of x is actually higher than the median (on initial calculation). In these exceptional cases the nA-count should be left blank.

c) Scores are not allocated to low censored values. In general, scores should be allocated unless there is a microbiological reason for not doing so. In this case, the nA-count and ns-count fields are left blank.

High censored values are entered as 1,0 log10 above the maximum reported score. If, for any reason, the results are to be excluded from the charts and analysis, and no scores are to be allocated, then the ns-count and nA-count fields should be left blank. If a result is reported as >x where the x-value is less than the median then the nA-count field should be left blank.

C.3. Plotting results

Plots are based on the nS-count values. There are two main types of plots used for PT scheme results: histograms (or bar charts) and scatter plots. Points to be considered when choosing which type of plot to use include the type of examination (MPN, colony counts, etc.) and the number of participants undertaking the examination.

Histograms are produced from the decimal logarithm value of the nR-count grouped as follows:

< 0, (0 to 0,05), (0,05 to 0,1), (0,1 to 0,15), (max. log10 nR-count), (max. log10 nR)-count + 0,05]

Any non-numeric or special cases to be plotted (e.g. −99) should be given their own bar.

Alternatively, the histogram may be produced based on the decimal logarithm value of the nR-count rounded to the nearest 0,05. In this case the groupings are as follows.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



In this case, the bar 0,1 includes all results from 0,075 to 0,124.

Scatter plots can be produced using the nS-count values directly then converting the y-axis to a decimal logarithmic scale. Non-numeric data are excluded from scatter plots

Bin-sizes (groups) of 0,05 log10 are normally used for the histograms so the ranges for allocation of scores are also rounded to 0,05 log10.

C.4. Allocation of scores

Where PT scheme results are assessed using scores, the criteria for allocation of scores should be listed in scheme protocols or reports. The score for the enumeration result is entered in a score field (nC-score); this may be manually amended where necessary.

Note that the final score for a result may be reached from the nC-score, but other factors may also require consideration.

 

ANNEX D

 (informative)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Safety data sheet for food PT scheme samples - Freeze-dried

Effective date:  dd-mm-yy

Review date:                dd-mm-yy

Issued to:                     All scheme participants

Identification of the product and the establishment

Product:                       Simulated food samples for general microbiological examinations

Establishment:             Full address and contact details for scheme organizer

Composition or information on ingredients

Glass vials of freeze-dried material containing a mixture of bacteria of hazard group 2 as defined by national and international legislation. A hazard group 2 organism may cause human disease and may be a hazard to laboratory workers, but is unlikely to spread to the community.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Physicochemical hazard:          Not applicable

Health hazard:   Minimal risk of infection, provided good laboratory practice is observed

Environmental hazard: Not applicable

First aid measures

If accidental contact with material occurs, laboratory staff shall follow local first aid procedures that are normally applied following exposure to an equivalent food sample. Following exposure to the material, medical advice shall be sought.

Fire fighting measures

Not applicable

Accidental release measures

Cover the area with absorbent material and flood with a suitable disinfectant. The area shall be left undisturbed for 30 min before the spill is mopped up with an excess of absorbent material. Wear appropriate personal protective equipment.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Store at room temperature in the dark. Samples shall be processed in a laboratory environment which, as defined by national regulations or guidelines, is suitable for the practice of microbiology. Staff handling the material should have been trained in the handling of infectious biological material. The material should be treated with the same degree of care as would be exercised with equivalent food samples. Hand-tomouth contact should be avoided while working with the samples and normal hand-washing procedures relating to the handling of routine samples shall also be observed with PT samples.

Exposure controls and personal protection

Use good laboratory practice and wear appropriate laboratory coats, gloves and eye protection. Removal of vials from packaging and reconstitution should be carried out in an exhaust protective cabinet.

Physical and chemical properties

Inert odourless dry material.

Stability and reactivity

Storage is unlikely to increase or decrease the risks of infection associated with handling the material.

Toxicological information

Not applicable

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Not applicable

Disposal considerations

The used material shall be disposed of using an autoclave as for food products containing infectious microorganisms and in accordance with all local and national regulations.

Transport information

Refer to national and international regulations for transport of bacteria in hazard group 2 (biological substance, category B; UN3373).

Regulatory information

EC Biological agent, hazard category/risk group 2

CAUTION - This safety data sheet does not constitute the user's own assessments of workplace risk as required by health and safety legislation.

Other information

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



For further safety information concerning this product, participants are advised to read the instruction sheet accompanying the samples.

 

BIBLIOGRAPHY

 [1] TCVN 6910-2 (ISO 5725-2) Accuracy (trueness and precision) of measurement methods and results - Part 2: Basic method for the determination of repeatability and reproducibility of a standard measurement method.

 [2] TCVN 6910-4 (ISO 5725-4) Accuracy (trueness and precision) of measurement methods and results - Part 4: Basic methods for the determination of the trueness of a standard measurement method.

 [3] TCVN 8128-1:2009 (ISO/TS 11133-1:2009) Microbiology of food and animal feeding stuffs — Guidelines on preparation and production of culture media - Part 1: General guidelines on quality assurance for the preparation of culture media in the laboratory

[4] ISO 16140 Microbiology of food and animal feeding stuffs - Protocol for the validation of alternative methods

[5] TCVN ISO/IEC 17025 General requirements for the competence of testing and calibration laboratories

[6] ISO/TS 19036 Microbiology of food and animal feeding stuffs - Guidelines for the estimation of measurement uncertainty for quantitative determinations

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



[8] ILAC-G13, ILAC Guidelines for the requirements for the competence of providers of proficiency schemes. Available (2010-02-10) at: http://www.ilac.org/documents/ILAC G13 08 2007.pdf

[9] Thompson, M., ELLISON, L.R,. WOOR, R. for IUPAC. The international harmonized protocol for the proficiency testing of analytical chemistry laboratories. Pure Appl. Chem.. 2006, 78, pp. 145- 196. Available (2010-10-08) at: http://iupac.org/publications/pac/2006/pdf/7801x0145.pdf

[10] AUGUSTIN, J.C., CARLIER, V. Lessons from the organization of a proficiency testing program in food microbiology by interlaboratory comparison: analytical methods in use, impact of methods on bacterial counts and measurement uncertainty of bacterial counts. Food Microbiol. 2006, 23, pp. 1-138

[11] FEARN, T., THOMPSON, M. A new test for “sufficient homogeneity”. Analyst 2001, 126, pp, 1414-1417

[12] HEISTERKAMP, S.H., HOEKSTRA, J.A., VAN STRIJP-LOCKEFEER, N.G.W.M,. VAVELAAR, A.H,. MOOIJMAN, K.A, IN’T VELD, P.H., S.H.W., MAIER, E.A.; GRIEPINK.B. Statistical analysis of certification trials for microbioligcal reference materials. Luxembourg: commission of the European communities, 1993. 41 p. (Report EUR 15008 EN.)

[13] JARVIS, B. Sampling for microbiological analysis. In: LUND, B.M., BAIR-PACKER, A C., GOULD, G.W., editors. The microbiological safety and quality of food, Vol. 2, pp.1691-1734. Gaithersburg, MD: Aspen, 2000

[14] JARVIS. B. Statistical aspects of the microbiological examination of foods, 2nd edition. Amsterdam: Academic Press, 2008. 306 p.

[15] JARVIS, B., HEDDGES.A.J., CORRY, J.E.L. Assessment of measurement uncertainty for quantitative methods of analysis: comparative assessment of the precision (uncertainty) of bacterial colony counts. Int. J. Food Microbiol. 2007, 116, pp. 44-51

[16] JARVIS.B., CORRY, J.E.R., HEDGES, A.J. Estimates of measurement uncertainty from proficiency testing schemes, internal laboratory quality monitoring and during routine enforcement examination fo foods. J. Appl. Microbiol. 2007, 103, pp. 462-467

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9331:2012 (ISO/TS 22117 : 2010) về Vi sinh vật trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi - Hướng dẫn và các yêu cầu cụ thể về thử nghiệm thành thạo thông qua so sánh liên phòng thử nghiệm

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

7.044

DMCA.com Protection Status
IP: 2001:ee0:4968:ecb0:397f:4112:10e8:55dd