TIÊU
CHUẨN QUỐC GIA
TCVN
11697-2:2016
ISO
9355-2:1999
YÊU CẦU ECGÔNÔMI ĐỐI VỚI THIẾT KẾ MÀN HÌNH HIỂN THỊ VÀ BỘ
TRUYỀN ĐỘNG ĐIỀU KHIỂN - PHẦN 2: MÀN HÌNH HIỂN THỊ
Ergonomic
requirements for the design of displays and control actuators - Part 2:
Displays
Lời nói đầu
TCVN 11697-2:2016 hoàn toàn tương
đương với ISO 9355-2:1999.
TCVN 11697-2:2016 do Ban kỹ thuật tiêu
chuẩn quốc gia TCVN/TC 159 Ecgônômi biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất
lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Bộ tiêu chuẩn TCVN 11697 (ISO 9355), Yêu
cầu ecgônômi đối với thiết
kế màn hình hiển thị và bộ truyền động điều khiển bao gồm các phần
sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- TCVN 11697-2:2016 (ISO 9355-2:1999),
Phần 2: Màn hình hiển thị;
- TCVN 11697-3:2016 (ISO 9355-1:2006),
Phần 3: Bộ truyền động điều khiển.
YÊU CẦU
ECGÔNÔMI ĐỐI VỚI THIẾT KẾ MÀN HÌNH HIỂN THỊ VÀ BỘ TRUYỀN ĐỘNG ĐIỀU KHIỂN - PHẦN 2:
MÀN HÌNH HIỂN THỊ
Ergonomic
requirements for the design of displays and control actuators - Part 2:
Displays
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này đưa ra những hướng dẫn
về việc lựa chọn, thiết kế và định vị màn hình hiển thị tránh các tác hại về
ecgônômi tiềm ẩn. Tiêu chuẩn này xác định những yêu cầu về ecgônômi và bao hàm
màn hình hiển thị hình ảnh, âm thanh và phần gợi ý.
Tiêu chuẩn này áp dụng cho màn hình hiển thị sử dụng
trong hệ thống máy (ví dụ: các thiết bị và lắp đặt, bảng điều khiển, vận hành
và kiểm tra bàn giao tiếp điều khiển - console) dành cho hoạt động nghề nghiệp
và mục đích sử dụng riêng. Những yêu cầu đặc biệt về ecgônômi đối với các màn
hình thiết bị đầu cuối (VDT) sử dụng cho công việc văn phòng được giới thiệu
trong TCVN 7318 (ISO 9241).
2 Tài liệu viện dẫn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
TCVN 5041 (ISO 7731), Tín hiệu báo
nguy ở nơi làm việc - Tín hiệu âm thanh báo nguy;
IEC 61310-1, Safety of machinery -
Indication, marking and actuation - Part 1: Requirements for visual, acoustic
and tactile signals (An toàn máy - Chỉ báo, thực hiện và vận hành - Phần 1: Yêu
cầu đối với các tín hiệu thị giác, thính giác và xúc giác);
IEC 61310-2, Safety of machinery -
Indication, marking and actuation - Part 2: Requirements for marking (An toàn
máy - Chỉ báo, thực hiện và vận hành - Phần 2: Các yêu cầu dành cho việc thực
hiện).
3 Thuật ngữ và định
nghĩa
Trong tiêu chuẩn này, sử dụng các thuật
ngữ và định nghĩa sau:
3.1
Người vận hành (operator)
Người hoặc nhiều người được giao nhiệm
vụ lắp đặt, vận hành, điều chỉnh, bảo trì, vệ sinh, sửa chữa hoặc vận chuyển
máy [EN 292-1]
3.2
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một hay nhiều hoạt động được yêu cầu để
đạt được kết quả dự kiến của hệ thống công việc
[EN 614-1]
3.3
Thiết bị làm việc (work
equipment)
Máy, công cụ, phương tiện vận tải, dụng
cụ, trang thiết bị, thiết bị kỹ thuật và các thành phần khác được sử dụng trong
hệ thống công việc [EN 614-1]
3.4
Tín hiệu (signal)
Tác nhân kích thích liên quan đến trạng
thái, hoặc sự thay đổi về trạng thái của thiết bị làm việc ảnh hưởng tới giác
quan của người vận hành. Tiêu chuẩn này mô tả các tín hiệu có thể phát hiện bằng
mắt thường (từ màn hình hiển thị hình ảnh), bằng tai (từ thiết bị hiển thị âm
thanh), hoặc bằng da (từ thiết bị hiển thị xúc giác)
3.5
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thiết bị dành để trình bày thông tin,
có thể thay đổi với mục
đích làm cho mọi thứ có thể nhìn thấy được, có thể nghe được hoặc cảm nhận được
bằng việc chạm vào (xúc giác).
3.6
Hiển thị số (digital
display)
Hiển thị mà trong đó thông tin được
trình bày đã được số hóa.
3.7
Hiển thị chữ và số (alphanumeric
display)
Hiển thị mà trong đó thông tin được thể
hiện như một sự kết hợp giữa số và chữ cái.
3.8
Hiển thị tương tự (analogue
display)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.9
Biểu tượng (symbols)
Chữ cái, số, hình ảnh đại diện, hoặc sự
kết hợp của chúng, được sử dụng để dán nhãn cho các thang đo trong thiết bị hiển
thị, hoặc như một hình thức tự nhận dạng thiết bị hiển thị.
3.10
Tri giác (perception)
Quá trình tâm sinh lý nảy sinh trong hệ
thần kinh trung ương, các sản phẩm là kiến thức về môi trường. Tri giác là một
quá trình động và không được quyết định đơn thuần chỉ bởi các thông số của tín
hiệu sinh ra nó. Hệ quả là thông tin đạt được có thể không đầy đủ, không chắc
chắn hoặc thiếu chính xác. Tri thức có thể căn cứ trên một hoặc nhiều mức độ nhận
thức sau đây: phát hiện, nhận dạng và diễn giải. Phát hiện là quá trình tri
giác bởi qua đó người vận hành trở nên chú ý tới sự hiện diện đơn thuần của một
tín hiệu. Nhận dạng là quá trình tri giác để qua đó phân biệt tín hiệu vừa phát
hiện được từ các tín hiệu khác. Diễn giải là sự kết hợp của quá trình tri giác
và nhận thức, qua đó nội dung và ý nghĩa của tín hiệu đã nhận dạng được ghi nhận.
4 Màn hình hiển thị
hình ảnh
Màn hình hiển thị hình ảnh có thể được sử
dụng để truyền dẫn lượng lớn thông tin tới người vận hành, ở nhiều cách khác
nhau.
4.1 Những
yêu cầu đối với việc phát hiện của màn hình hiển thị hình ảnh
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các yêu cầu về tâm sinh lý và chức
năng của người vận hành và không cản trở đường nhìn (line of sight) cần có trong suốt
quá trình thực hiện nhiệm vụ quyết định việc bố trí màn hình hiển thị hình ảnh
tương ứng với người vận hành. Kích thước trường nhìn của người vận hành bị giới
hạn, nên giới hạn số lượng màn hình hiển thị có thể phải được chú ý tới tại mọi
thời điểm.
Hai dạng khác nhau của nhiệm vụ thị
giác được phân biệt là: nhiệm vụ phát hiện và nhiệm vụ quan sát. Nhiệm vụ phát
hiện là những nhiệm vụ mà tại đó người vận hành phải được hệ thống cảnh báo, nhiệm
vụ quan sát là những nhiệm vụ mà trong đó người vận hành chủ động tìm kiếm
thông tin.
Ba vùng suy giảm hiệu quả đối với việc
phát hiện tín hiệu thị giác được xác định cho cả nhiệm vụ phát hiện và nhiệm vụ
quan sát là “Được khuyến nghị”, “Có thể chấp nhận” và “Không phù hợp”
(Xem Bảng 1). Các đường trung tâm của các vùng “Được khuyến nghị” và “Có thể chấp
nhận” nằm trong mặt phẳng giữa và tương ứng với đường nhìn, như trong Hình 1 và
Hình 2. Trong nhiệm vụ phát hiện, đường nhìn phụ thuộc vào vùng trung tâm của sự
chú ý. Đối với nhiệm vụ kiểm tra, màn hình hiển thị có thể được đặt ở vị trí
xung quanh phương ngắm, ở góc dưới đường nằm ngang, làm cho người vận hành cảm
thấy thoải mái hơn.
Những góc được hiển thị trong các hình
này là các khuyến nghị chung về ecgônômi; giả sử người vận hành có thị lực bình
thường, và có khả năng duy trì một vị trí (tốt nhất là vị trí ngồi) thoải mái và ổn định,
gần màn hình hiển thị.
Bảng 1 - Các
mức độ phù hợp
Mức độ phù
hợp
Ý nghĩa
A: Được khuyến nghị
Vùng này sẽ được sử dụng tại bất cứ
nơi nào có thể
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Vùng này có thể được sử dụng nếu
vùng được khuyến nghị không thể
sử dụng được
C: Không phù hợp
Không nên chọn vùng này


Trường thị giác thẳng
đứng cho việc phát hiện
Trường thị giác nằm
ngang cho việc phát hiện
CHÚ GIẢI: S: đường nhìn, phương hướng
được xác định bởi những yêu cầu nhiệm vụ bên ngoài
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66


Trường thị giác thẳng
đứng cho việc quan sát
Trường thị giác nằm
ngang cho việc quan sát
CHÚ GIẢI: SN:đường nhìn bình
thường, từ 150 đến 300 dưới đường nằm
ngang
Hình 2 - Các
nhiệm vụ quan sát
Màn hình hiển thị hình ảnh sẽ không được
đặt ở vị trí bên ngoài các khu vực “Được khuyến nghị” và “Có thể chấp nhận” trừ
khi các công cụ hỗ trợ phù hợp được người thiết kế cung cấp. Ví dụ, bổ sung thiết
bị hiển thị âm
thanh, hoặc các thiết bị khác không yêu cầu những thay đổi lớn về tư thế của
người vận hành. Chỉ nên sử dụng
khu vực “Không phù hợp” đối với màn hình hiển thị không đóng vai trò quan trọng
trong vận hành an toàn.
Tại nơi khả năng phân biệt màu sắc của
người vận hành đóng vai trò quan trọng đối với việc sử dụng chính xác màn hình
hiển thị, thì phải giới hạn bớt vùng “Có thể chấp nhận”, bởi kích thước của trường
thị giác trung tâm (nhạy cảm với màu sắc) nhỏ hơn trường nhạy cảm với ánh sáng
trắng.
4.1.2 Các mối quan
hệ chức năng giữa thiết bị hiển thị và người vận hành
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với cả hai mối quan hệ chức năng
này, màn hình hiển thị nào được sử dụng nhiều nhất và quan trọng nhất sẽ có quyền
ưu tiên cao nhất cho vị trí trong khu vực gần đường nhìn tự nhiên của người vận
hành (Khu vực A). Các màn hình hiển thị có độ ưu tiên thấp hơn có thể được đặt
tại vị trí hướng tới vùng ngoại vi của thị giác (Vùng B hoặc thậm chí Vùng C nếu
cần).
Trong một số điều kiện cần tối đa hóa
hiệu quả thu hút sự chú ý của những thiết bị hiển thị chức năng báo động hoặc cảnh
báo bằng công tác thiết kế. Vì hệ thống thị giác của con người rất nhạy cảm với
sự thay đổi trong môi trường thị giác, do vậy người thiết kế có thể lựa chọn,
ví dụ: đặc điểm chớp sáng để cảnh báo người vận hành, vì tính chất thay đổi của
một màn hình hiển thị chớp sáng sẽ được phát hiện một cách dễ dàng. Chú ý là đặc
điểm chớp sáng cần kết hợp độ chiếu sáng thấp, tránh tạo ra dư ảnh trong mắt
người vận hành. Ngoài ra, có thể kết hợp một thiết bị hiển thị âm thanh với một
màn hình hiển thị thị giác có cường độ chiếu sáng thấp và liên tục.
4.1.3 Các yếu tố
môi trường
Các yếu tố môi trường quan trọng nhất
là chiếu sáng và độ rung, cần đặc biệt quan tâm đến việc thiết kế màn hình hiển
thị để bù lại những hiệu quả ngược có thể xảy ra.
Tại những nơi làm việc với những màn
hình hiển thị thụ động (không phát ra ánh sáng), cần có một cường độ
chiếu sáng tối thiểu là 200 Ix. Nếu điều này không thể thực hiện được, thì các
biện pháp bù đắp cần được áp dụng, ví dụ: tăng kích thước thông tin được hiển
thị trên màn hình, cung cấp ánh sáng cục bộ hoặc chiếu sáng chủ động (màn hình
hiển thị chiếu sáng). Phải tránh những chỗ lấp bóng với độ tương phản hoặc phản
chiếu cao ngăn cản tri giác. Theo đó, bóng đèn sử dụng trong nhà, loại có thể tạo
ra độ phản xạ trên màn hình hiển thị, sẽ được lắp ở các góc có tính đến các hướng
quan sát
chủ
yếu. Các biện pháp bù đắp đặt nghiêng màn hình hiển thị và/hoặc trang bị các bề
mặt hiển thị không phản xạ. Cần lựa chọn các nguồn sáng cho phép phân biệt các
thành phần hiển thị màu sắc với phông nền.
Hiệu quả đọc có thể bị ảnh hưởng bởi
giá trị rung cực đại hoặc liên tục của màn hình hiển thị, của người vận hành hoặc
cả hai. Dao động theo phương thẳng đứng tần số thấp (1 Hz tới 3 Hz) của màn
hình hiển thị kỹ thuật số dẫn tới các lỗi đọc lớn, tỉ lệ thuận với
gia tốc ở các mức gia tốc trên 5 m/s2.
Các lỗi đọc tăng lên với tần số từ 3
Hz đến 20 Hz. Khi người vận hành và màn hình hiển thị tương ứng dao động đồng bộ
theo phương thẳng đứng, thì hiệu quả đọc bị ảnh hưởng ít nhất ở các tần số dưới
3 Hz, nhưng sẽ giảm đáng kể ở các tần số cao hơn.
Ở các tần số từ 3 Hz đến 20 Hz, gia tốc
theo phương thẳng đứng lớn hơn 5 m/s2 làm giảm hiệu quả đọc, và tồn
tại một sự phụ thuộc tuyến tính giữa hai thông số này. Dao động hình sin đơn trục
đa biến có thể dẫn tới
việc giảm bớt hiệu quả đọc, do các ảnh hưởng giao thoa. Dao động trục đôi có thể
tạo ra một chuyển động quay. Các lỗi đọc và thời gian đọc theo đó sẽ tăng theo
tần số dao động.
Các biện pháp bù đắp là:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) độ rộng phương dao động vào khoảng
giữa 5 % và 7 % của chiều cao các ký tự được trình bày;
c) tần số dao động màn hình hiển thị
phù hợp với tần số dao động
của người vận hành.
4.1.4 Tuân thủ các
điều kiện nhằm hỗ trợ phát hiện tín hiệu
Đường nhìn của người vận hành không được
ngắt quãng đối với tất cả các tư thế làm việc có thể chấp nhận được theo
ecgônômi, và đối với tất cả các đặc điểm về nhân trắc học của tập hợp người sử
dụng.
Để việc nhận dạng được tốt, nên lựa chọn
trình bày bằng màu trắng và đen. Tuy nhiên, màn hình hiển thị mã hóa bằng màu sắc
có thể giúp phát hiện nơi mật độ biểu tượng cao, hoặc nơi người vận hành phải
tìm kiếm thông tin đã xác định. Bao quanh các thiết bị hiển thị có liên quan bằng
một màu đơn sắc cũng có thể giúp tăng cường liên kết giữa các màn hình hiển thị.
Xem IEC 61310-1 và IEC 61310-2.
4.2 Yêu cầu
dành cho việc nhận diện màn hình hiển thị hình ảnh
Chất lượng hình ảnh của màn hình hiển
thị phải cao dưới mọi điều kiện quan sát thông thường và khẩn cấp: độ tương phản
sẽ cao tới mức có thể, và khả năng
nhầm lẫn giữa các thiết bị hiển thị (hoặc các thành phần của màn hình hiển thị)
phải được giảm bớt bằng việc sử dụng các hình dạng, màu sắc, các nhãn khác nhau
hoặc các phương thức phù hợp khác nhằm phân biệt một màn hình hiển thị với những
màn hình hiển thị khác.
Độ tương phản giữa các biểu tượng, ký
tự, chữ số, con trỏ, đường kẻ và
môi trường cũng như phông nền tức thời xung quanh chúng sẽ phù hợp để tạo ra
các mức độ dễ đọc và khả năng phân biệt, đó là những đặc điểm tương thích với tốc
độ nhận thức và sự chính xác mà nhiệm vụ yêu cầu. Đối với trường hợp
các màn hình phát quang (chủ động) phải có tỉ lệ tương phản (tỉ lệ của độ
chói nổi và độ chói nền) tối thiểu là 3:1 để tuân theo yêu cầu này; tỉ lệ 6:1 được
khuyến nghị. Bề mặt của các màn hình phát quang phải không phản xạ các nguồn
ánh sáng khác tới bất kỳ phạm vi nào (có nghĩa là mức độ tương phản giữa ánh
sáng phản xạ và ánh sáng xung quanh phải thấp nhất có thể), nếu không màn hình
hiển thị có thể bị trông như ở trạng thái bật khi không bật hoặc quá khó để đọc
được.
4.2.1 Các biểu tượng
được sử dụng cho màn hình hiển thị
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình 3 mô tả các giá trị quan trọng,
liên quan đến đặc điểm về kích thước và tỉ lệ. Lưu ý rằng khoảng cách quan sát (d)
chỉ là một trong số những nhân tố quan trọng sẽ quyết định các chiều ký tự phù
hợp. Mức độ chiếu sáng, độ tương phản giữa các ký tự và nền, cũng như tính dễ đọc
chung của các ký tự, sẽ ảnh hưởng tới tất cả các giá trị kể trên.

CHÚ GIẢI:
d: Khoảng cách từ mắt
đến ký tự
α: Góc nhìn tính bằng
phút
h: Chiều cao của ký tự
w: Chiều rộng của ký tự
s: Độ đậm nét của ký tự
Hình 3 - Mô tả
các giá trị
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Khoảng được khuyến nghị đối với chiều
rộng của ký tự (w) giữa 60 % và 80 % chiều rộng ký tự. Chỉ ở nơi bề mặt
màn hình cong, hoặc góc nhìn bị xiên thì cần khoảng giữa 80 % và 100 % chiều
cao của ký tự được sử dụng. Chiều rộng của ký tự nhỏ hơn 50 % chiều
cao của ký tự là không phù hợp.
- Các khoảng phù hợp đối với độ đậm
nét của ký tự (s trong Hình 3) được đưa ra trong Bảng 2. Khuyến nghị cho
thấy khoảng trống phù hợp giữa các chữ cái (20 % đến 50 % chiều rộng ký tự) và
giữa các từ (1 lần đến 1,5 lần
chiều rộng ký tự).
Bảng 2 - Sự
phù hợp của độ đậm nét khác nhau của các ký tự
Kiểu màn hình hiển
thị
Độ đậm nét của ký tự như tỷ lệ phần
trăm của chiều cao ký tự
Mức độ phù hợp
Trình diễn dương bản 1)
Trình diễn âm bản 1)
Màn hình hiển thị chủ động
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Từ 8 đến 12
Được khuyến nghị
Từ 14 tới < 17
Từ 6 đến < 8
> 12 đến 14
Có thể chấp nhận
Từ 12 đến < 14
Từ 5 đến < 6
> 14 đến 15
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Màn hình hiển thị bị động
Từ 16 đến 17
Từ 12 đến 14
Được khuyến nghị
Từ 12 đến < 16
Từ 8 đến < 12
> 14 đến 16
Có thể chấp nhận
Từ 10 đến < 12
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
> 16 đến 18
Có thể chấp nhận theo điều kiện 3)
1) Trình diễn
dương bản: các ký tự tối trên nền sáng.
2) Trình diễn
âm bản: các ký tự sáng trên nền tối.
3) Dưới những
điều kiện quan sát đặc biệt phù hợp.
4.2.2 Màn hình hiển
thị số
Việc thiết kế các số và độ tương phản
của chúng với màn hình nền sẽ gắn liền với các khuyến nghị kể trên. Nếu màn
hình hiển thị số mang tính cơ khí (các con số được in trên những vòng bánh xe
quay), thì khuyến nghị rằng những con số này sẽ được hoàn toàn nhìn thấy trên cửa
sổ của màn hình hiển thị, và sẽ không che bất cứ phần nào khi các vòng tròn hiển
thị quay (ví dụ: bằng hành động chụp nhanh).
Vì màn hình hiển thị số yêu cầu ít khoảng
trống, nên có các con số kích thước lớn là khả thi và sẽ được ưa thích hơn. Tại
nơi phải hiển thị nhiều con số, các lỗi đọc có thể được giảm thiểu bằng cách nhóm các số
thành các khối nhỏ. Các dãy bao gồm ba hoặc hai số sẽ được ưa thích lựa chọn,
trừ khi việc diễn giải màn hình hiển thị được hỗ trợ nhiều số hơn trên mỗi khối.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chỉ số (ví dụ: kim chỉ độ, mức chất lỏng)
phải nhìn thấy ở mọi thời điểm, thậm chí khi chỉ số vượt ra ngoài khung trên
thang chia độ. Việc sử dụng màn hình hiển thị với chỉ số chuyển động
và một thang chia độ cố định được khuyến nghị. Hình 4 minh họa các hướng phù hợp
của chuyển động chỉ số đối với
việc xác định đại lượng tăng hoặc giảm.

CHÚ GIẢI:
a) Tăng
b) Giảm
Hình 4 - Các
hướng phù hợp của chuyển động đối với kim chỉ độ
Thang mức số không phải được định vị để
mức tăng được biểu thị từ trái - sang - phải, theo chiều kim đồng hồ hoặc chuyển
động theo hướng đi lên của kim chỉ độ, cũng như những lần giảm từ phải - sang -
trái, ngược chiều kim đồng hồ hoặc chuyển động theo hướng đi xuống của kim chỉ
độ.
4.2.4 Lựa chọn
thang đo cho màn hình hiển thị tương tự
Nhằm nhận thức tốt và giảm bớt các lỗi khi
đọc, chiều thang đo, thang chia độ, đính nhãn và thiết kế kim chỉ độ sẽ được
xét tới.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Chú giải:
x: Giá trị từ A đến G
trong Bảng 3
d: Khoảng cách từ thang đo đến mắt (mm)
α: Góc nhìn (phút cung)
CHÚ THÍCH: Để thuận lợi cho việc tính
toán, x sẽ tương đương với
, nếu L được
thay thế bằng giá trị phù hợp từ A đến G trong Bảng 3, tại nơi khoảng cách đọc
là 700 mm.
Bảng 3 - Các
chiều đánh dấu chia độ đối với các mức chiếu sáng sáng cao/thông thường và thấp
ở khoảng cách đọc 700 mm
Ký hiệu từ
Hình 5a
Giải thích
ký hiệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mức độ chiếu
sáng thấp
< 100 Ix
Phút cung
mm
Phút cung
mm
A
Chiều rộng điểm chia độ lớn chính
1,5
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4,5
0,9
B
Chiều rộng điểm chia độ trung bình
1,5
0,3
3,5
0,7
C
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1,5
0,3
3
0,3
D
Chiều cao điểm chia độ lớn
24
4,9
24
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
E
Chiều cao điểm chia độ trung bình
18
3,7
18
3,7
F
Chiều cao điểm chia độ nhỏ
12
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
12
2,4
G
Khoảng cách tối thiểu giữa các điểm
chia độ liền kề:
- Không chia nhỏ hoặc chia làm 2 phần
- 5 phần
4
0,8
6
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
12
2,4
12
2,4
Việc chia độ các thang đo, như một
cách thức quan trọng nhằm cải thiện sự nhận biết các giá trị thang đo, phải
tương ứng với độ chụm của phương pháp đo được yêu cầu, và tương thích với độ
chính xác của bộ chuyển đổi. Sẽ không có nhiều hơn 3 mức chia độ (lớn, trung
bình và nhỏ). Sẽ không có nhiều hơn 4 điểm trung bình (nghĩa là năm phần) giữa
hai điểm lớn, và sẽ không có nhiều hơn 4 điểm chia độ nhỏ (nghĩa là năm phần)
giữa hai điểm trung bình. Các giá trị khoảng đo được giữa hai điểm chia độ nhỏ hơn có
thể là 1, 2, 5 hoặc một bội số thập phân của các số đó. Khả năng nhận dạng là
không đồng nhất đối với các thang chia độ. Hình 5b cho thấy một số ví dụ về các
thang đo được chia độ một cách hợp lý.
Phép nội suy khi tính toán các giá trị
thang đo giữa hai điểm nhỏ hơn là không cần thiết. Nếu phép nội suy được yêu cầu,
thì sự chính xác được yêu cầu phải không được quá một phần năm của khoảng giữa.
Nếu cần các khoảng giữa sẽ được mở rộng.

Chú giải:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b): Điểm chia độ trung bình
c): Điểm chia độ nhỏ
Đối với chiều của các điểm chia độ A đến
G xem Bảng 3

Hình 5 b -
Các ví dụ về thang chia độ và tạo nhãn
Hình dạng và kích thước của các con số
được gắn trên thang đo cần tuân thủ theo các khuyến nghị trong 4.2.1. Các biểu
tượng được sử dụng phải ở dạng thẳng đứng tại mọi vị trí của thang đo và không
bị kim chỉ che khuất. Các biểu tượng cần được đặt bên cạnh thang đo đối diện với
kim chỉ độ. Giữa hai điểm đã được dán nhãn không nên có nhiều hơn chín điểm
chưa được đánh dấu.
Đỉnh của kim chỉ độ thường thu nhỏ dần
kích thước và cần chỉ tới mỗi đường cơ bản của một thang đo. Để tránh các lỗi
thị sai, tâm của các thang đo dạng tròn cần được đục thủng (hay khoét chìm). Thị
sai cần được giảm thiểu để bảo đảm người vận hành có thể đọc chính xác ngay cả
khi góc nhìn không được tối ưu.
Thiết bị hiển thị sẽ được lựa chọn để
các khoảng chia độ tương tự như các khoảng giá trị mong đợi được đo. Ví dụ, với
một khoảng chia độ từ - 5 đến + 5, thang chia độ phía bên phải của Hình 6 được
chấp nhận, nhưng thang chia độ bên trái Hình 6 lại không được chấp nhận.

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.2.5 Sự lựa chọn
thiết bị hiển thị liên quan đến các dạng nhiệm vụ khác nhau
Việc lựa chọn màn hình hiển thị cũng
phụ thuộc vào việc làm thế nào màn hình hiển thị được sử dụng, đặc biệt liên
quan đến nhiệm vụ cần được ưu tiên hàng đầu. Khi một màn hình hiển thị đang được
sử dụng, ba dạng cơ bản của việc quan sát được trình diễn và thường được yêu cầu
gần như cùng lúc. Những dạng quan sát này như sau:
a) Đọc một giá trị đã được đo;
b) Đọc kiểm tra;
c) Giám sát những thay đổi trong một
giá trị được đo.
Đọc một giá trị đã được đo (quan sát định
lượng) là một nhiệm vụ
nhận thức, trong đó lưu ý tới một giá trị đã được chỉ rõ. Để phục vụ mục đích
này, giả định rằng tỷ lệ thay đổi của việc xác định đủ thấp để cho phép việc
quan sát chính xác. Các con số trên màn hình hình hiển thị số không được thay đổi
nhanh hơn hai lần/giây.
Đọc kiểm tra là một nhiệm vụ trong đó
việc kiểm tra chỉ diễn ra trong chớp mắt, để xem liệu giá trị được chỉ có đồng
nhất với giá trị được lập trước hay không, hoặc để xem liệu giá trị đó có nằm trong một
khoảng dung sai hay không.
Giám sát sự thay đổi của các giá trị
đo được là một nhiệm vụ mà ở đó người quan sát cần lưu ý đến chiều và tỷ lệ
thay đổi của các giá trị đo. Dạng quan sát này chính là đặc điểm của các nhiệm
vụ điều khiển.
Không phải tất cả các loại màn hình hiển
thị đều phù hợp như nhau đối với các dạng nhiệm vụ nhận thức đã đề cập ở trên.
Bảng 4 tóm tắt các khuyến nghị về kiểu màn hình hiển thị nào được sử dụng cho
các nhiệm vụ nhận thức khác nhau. Do vậy, các kiểu màn hình hiển thị có thể được lựa
chọn để sẽ giảm thiểu các lỗi
về nhận thức, và hỗ trợ nhận dạng nhanh, do đó tạo điều kiện tốt để thực hiện
nhiệm vụ nhận thức.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.2.6 Nhóm thiết bị
hiển thị
Để dễ dàng phát hiện những điều kiện
không bình thường, màn hình hiển thị sẽ được đặt theo cách tất cả các kim chỉ độ
đều chiếm cùng một vị trí góc khi chỉ ở trạng thái thông thường (xem Hình 7a).
Màn hình hiển thị tương tự được khuyên dùng đối với việc đọc có liên quan tương
đối. (xem Hình 7b).
Nếu các chuỗi hành động nảy sinh yêu cầu
đọc màn hình hiển thị theo trật tự đã định trước, hoặc nếu chúng có liên quan tới
các loại máy đã được đánh số theo trật tự, thì màn hình hiển thị sẽ được đặt
theo cùng trật tự đó và sẽ chạy từ trái sang phải hoặc từ trên xuống dưới bảng.
Tại nơi nhiều màn hình hiển thị đặt liền
nhau (ví dụ: trên một tấm bảng), người thiết kế sẽ tránh khả năng nhầm lẫn giữa
các màn hình hiển thị bằng cách, ví dụ, mã hóa bằng màu sắc, hoặc bằng sự phân
bổ về khoảng cách (ví dụ: tạo thành nhóm), hoặc bằng các phương tiện phù hợp
khác.

Hình 7a - Một
nhóm kết hợp đồng đều của màn hình hiển thị có kim chỉ độ tăng cường phát hiện sự chệch hướng
Bảng 4 - Khả
năng phù hợp của màn hình hiển thị hình ảnh đối với các nhiệm vụ nhận thức khác
nhau
Kiểu màn
hình hiển thị
Nhiệm vụ nhận
thức
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Kiểm tra việc đọc
Giám sát thay đổi trong một giá trị
được đo
Kiểm tra việc đọc
Màn hình hiển thị số

Được khuyến nghị
Không phù hợp
Không phù hợp
Không phù hợp
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Có thể chấp nhận
Được khuyến nghị
Được khuyến nghị
Được khuyến nghị
Thang đo 90o

Có thể chấp nhận
Được khuyến nghị
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Có thể chấp nhận

Thang đo tuyến theo phương ngang
Thang đo tuyến theo phương đứng

Có thể chấp nhận
Có thể chấp nhận
Có thể chấp nhận
Có thể chấp nhận
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình 7b - Màn
hình hiển thị tương tự đặc biệt phù hợp với sự tổ hợp của các thang đo khác nhau
nhằm dễ dàng đọc và phản ứng cùng lúc. Ví dụ cho thấy chỉ số ILS của máy bay,
chỉ rõ những sai lệch đường lượn nằm ngang cũng như đường lượn thẳng đứng
4.3 Những
yêu cầu dành cho việc diễn giải màn hình hiển thị hình ảnh
Việc diễn giải một sự quan sát được
quyết định bằng chức năng quan sát trong tình huống nhiệm vụ. Các cá nhân có thể
diễn giải thông tin từ màn hình hiển thị theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc
vào nhiệm vụ mà họ đang thực hiện, lý do họ tham khảo thông tin trên màn hình
hiển thị (ví dụ: các tình huống thông thường hoặc khẩn cấp) và kinh nghiệm cũng
như quá trình đào tạo của họ. Rất khó có thể thiết kế màn hình hiển thị phù hợp
mà thiếu đi kiến thức được trang bị kỹ càng về các tình huống mà trong đó màn
hình hiển thị được sử dụng. Phân tích nhiệm vụ có thể cung cấp thông tin được
yêu cầu đối với các thiết kế thành công, và do đó màn hình hiển thị sẽ được thiết
kế dựa trên việc phân tích nhiệm vụ bất cứ khi nào có thể.
Điều quan trọng là nhà thiết kế hỗ trợ
người vận hành màn hình hiển thị để đạt được nhanh chóng, an toàn và chính xác
bằng một hoặc các cách sau:
a) Màn hình hiển thị tín hiệu đơn giản
nhất được yêu cầu bởi người vận hành nhằm đưa ra quyết định chính xác (ví dụ:
màn hình hiển thị hai trạng thái như: BẬT/TẮT);
b) Tại nơi có thể áp dụng màn hình hiển
thị hai trạng thái, hiển thị thông tin định tính đơn giản nhất sẽ rất phù hợp
(ví dụ: TRỐNG RỖNG/THẤP/BÌNH THƯỜNG/CAO/ĐẦY);
c) Chỉ tại nơi cả a) và b) cung cấp
thông tin không phù hợp, màn hình hiển thị thông tin định tính liên tục sẽ được
lựa chọn (ví dụ: nhiệt độ theo thang chia độ bách phân, áp suất đơn vị là
Pascals):
d) Tại nơi c) được chấp nhận, số thang
chia độ trên mặt chia độ của màn hình hiển thị sẽ thấp đến mức tối thiểu, xét
trong những ràng buộc để duy trì tính năng điều khiển hiệu quả;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
f) Các màn hình hiển thị có liên quan
với nhau (ví dụ: thông qua chức năng hoặc xử lý) sẽ được nhóm lại nhằm nhấn
mạnh mối liên kết giữa chúng (xem 4.2.6).
5 Thiết bị hiển thị
âm thanh
Các âm thanh tạo nên thiết bị hiển thị
âm thanh có thể đa dạng về cường độ, tần số, thời gian, âm sắc hoặc trong các
khoảng nghỉ giữa những âm thanh rời rạc. Đối với những nhiệm vụ khẩn cấp hoặc
liên quan đến vấn đề an toàn, việc sử dụng đồng thời các thiết bị hiển thị thị
giác và thính giác thường được ưa thích/quan tâm hơn chỉ sử dụng một trong hai
loại thiết bị hiển thị này. Sau khi khảo sát, người điều hành sẽ có khả năng tắt
thiết bị hiển thị âm thanh trong khi màn hình hiển thị hình ảnh (kèm theo thông
báo) vẫn giữ nguyên.
Thiết bị hiển thị âm thanh cho phép
giao tiếp đa hướng với một người vận hành, do vậy thông tin có thể chuyển tiếp
ngay cả khi người vận hành thực hiện các nhiệm vụ khác. Thiết bị hiển thị âm
thanh sẽ được sử dụng khi thị giác của người vận hành đã hoàn toàn bị choán đầy; khi thông
tin được trình diễn bởi màn hình hiển thị yêu cầu hành động tức thời; khi thông
điệp đơn giản và ngắn gọn, hoặc khi người vận hành phải di chuyển quanh nơi làm
việc. Để tránh tình trạng làm người vận hành làm việc gần kề bị xao nhãng, thiết
bị hiển thị âm thanh phải được sử dụng theo cách chúng sẽ gây ra sự cản trở tối
thiểu tại những nơi làm việc khác. Để bảo đảm thiết bị hiển thị âm thanh đáp ứng
được những yêu cầu trên, thiết bị hiển thị sẽ được kiểm tra độ phù hợp theo các
điều kiện mà người vận hành đang làm việc tại đó.
Sẽ phản tác dụng nếu sử dụng quá nhiều
thiết bị hiển thị âm thanh, bởi người vận hành có thể sẽ bị nhầm lẫn. Số các
thiết bị hiển thị có thể phân biệt được và diễn giải được tùy thuộc vào tình huống
của từng nơi làm việc, và tùy thuộc vào quá trình đào tạo cũng như kinh nghiệm
của người vận hành. Những nhân tố này phải được tính đến khi quyết định số thiết
bị hiển thị âm thanh được sử dụng. Khi các thiết bị hiển thị âm thanh được yêu
cầu, cần xét đến việc sử dụng một hệ thống cảnh báo bằng lời nói.
5.1 Các yêu cầu
đối với việc phát hiện thiết bị hiển thị âm thanh
Nhân tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng
tới khả năng phát hiện chính là sự thay đổi dạng âm thanh môi trường xung
quanh, vì thay đổi sẽ làm tăng thêm sự chú ý của người vận hành. Do vậy, các âm
thanh ngắn lặp đi lặp lại (như thiết bị hiển thị âm thanh hai âm sắc) là những
lựa chọn hoàn hảo, và dễ dàng được phát hiện thậm chí trong những môi trường có
tiếng ồn cao.
a) Tỉ lệ tín hiệu - tiếng ồn
là một yếu tố quan trọng nữa tác động đến việc nhận dạng. Đây chính là tỉ lệ về mức độ
áp suất âm thanh của thiết bị hiển thị hướng tới tai của người vận hành, so
sánh với mức ồn (bao gồm cả lời nói) không liên quan đến thiết bị hiển thị. Trường
hợp thiết bị hiển thị âm thanh được sử dụng như hình thức báo động, xem TCVN
5041 (ISO 7731). Đối với các mục đích sử dụng khác, khuyến cáo mức áp suất âm
thanh của thiết bị hiển thị sẽ vượt quá mức tiếng ồn xung quanh tối thiểu 5 dB,
nhưng không thể lớn hơn 10 dB.
Tuy nhiên, tỉ lệ tín hiệu
- tiếng ồn không chỉ là mối quan tâm duy nhất. Độ nhạy của thính giác con người
là có liên quan đến tần số, và nhạy cảm nhất đối với các tín hiệu trong dải từ
500 Hz đến 3 000 Hz. Do vậy, tần số (hoặc các tần số) của âm nổi trội của thiết
bị hiển thị sẽ ở trong dải tần này, và sẽ khác so với các tần số âm nổi trội của
bất kỳ tiếng ồn nào. Tại nơi tín hiệu phải đi qua một số khoảng cách để được
nghe thấy (ví dụ: chiều dài của phòng điều khiển), tín hiệu được khuyến nghị
trong khoảng từ 500 Hz đến 1000 Hz, trừ khi các tần số âm nổi của bất kỳ tiếng ồn
nào có thể át đi tín hiệu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để bảo đảm nhận diện chính xác, các
thiết bị hiển thị âm thanh sẽ dễ dàng phân biệt với các âm thanh khác trong môi
trường. Việc nhận diện chủ yếu được xác
định bởi sự thay đổi đặc trưng trong dạng âm thanh hiện có, do màn thiết bị thị
thính giác tạo ra, bằng mức áp suất âm thanh của thiết bị hiển thị tương ứng với
tiếng ồn nền (bao gồm cả lời nói và màn hình thiết bị hiển thị âm thanh khác),
bằng phổ tần số của thiết bị hiển thị tương ứng với tiếng ồn nền (bao gồm cả lời
nói và các thiết bị hiển thị âm thanh khác), bằng các dạng khác nhau về biên độ
và/hoặc tần số theo một vài hình mẫu đặc biệt (đặc điểm hiển thị cá nhân), và bằng
vị trí của thiết bị hiển thị liên quan đến các đặc điểm về âm học của môi trường
xung quanh. Thêm vào đó, âm sắc, sự lặp lại, nhịp điệu và giai điệu có thể được
sử dụng cho việc hỗ trợ nhận diện khác.
Nhận biết được tình huống khẩn cấp là
một nhân tố khác ảnh hưởng đến sự nhận diện. Mức độ của tình huống khẩn
cấp được nhận diện sẽ phụ thuộc vào cấu trúc và các đặc điểm khác của tín hiệu âm thanh và vào
quá trình đào tạo và thông tin sẵn có cung cấp cho người vận hành. Tình huống khẩn
cấp
của
một thiết bị hiển thị có thể được thể hiện bằng, ví dụ, một tần số cao hơn
và/hoặc một nhịp độ nhanh. Tình huống khẩn cấp được nhận biết của thiết bị hiển
thị sẽ tương ứng với sự ưu tiên của thiết bị hiển thị.
5.3 Yêu cầu đối với
việc diễn giải các thiết bị hiển thị âm thanh
Khoảng âm thanh sẵn có sử dụng được
trong các thiết bị hiển thị âm thanh là cực rộng, và do đó cần lưu ý đến số lượng
các thiết bị hiển thị mà người vận hành phải diễn giải được giữ ở mức tối thiểu.
Các thiết bị hiển thị khiến người vận hành giật mình, hoặc tạo ra báo động mức
độ cao sẽ bị hạn chế sử dụng chỉ khi xác định tình trạng cực kỳ khẩn cấp của hệ
thống.
Các thiết bị hiển thị âm thanh đem lại
hiệu quả cao nhất trong việc cung cấp cho người vận hành thông tin, yêu cầu
hành động tức thời (ví dụ: các loại báo động), với thông tin đơn giản (ví dụ:
chỉ ra một hoặc hai trạng thái, như BẬT/TẮT; CAO/THẤP...), với thông tin về các sự
kiện đúng lúc (ví dụ: thu hút sự chú ý của người vận hành vào tình trạng khởi động
và/hoặc kết thúc của một quá trình), và với thông tin về sự thay đổi trạng thái
của hệ thống (ví dụ: thu hút sự chú ý của người vận hành vào một số màn hình hiển
thị khác, thường là màn hình hiển thị hình ảnh). Bất cứ khi nào có thể, thiết bị
hiển thị âm thanh chỉ nên hạn chế trong việc thực hiện các chức năng này.
Đầu ra tiếng nói có thể được sử dụng
như một phương thức linh hoạt và dễ dàng để diễn giải thiết bị hiển thị âm thanh. Tại
nơi hệ thống dạng này được sử dụng, thì người thiết kế cần xét xem nên có bao
nhiêu lần lặp lại thông điệp tự động và quyết định xem liệu có cần cung cấp
các tính năng điều khiển để gỡ bỏ và lặp lại thông điệp hay không.
6 Thiết bị hiển thị
xúc giác
Thiết bị hiển thị xúc giác là loại màn
hình sử dụng trạng thái của một bề mặt, và nổi bật hoặc đường nét của các đối
tượng có thể chạm tới (thường là bằng bàn tay và ngón tay) để chuyển tải thông
điệp. Thiết bị hiển thị xúc giác sẽ không được sử dụng trong việc chuyển tải
thông tin ưu tiên trừ khi các dạng thiết bị hiển thị khác không phù hợp, hoặc
trừ khi các thiết bị hiển thị xúc giác được sử dụng như kênh hiển thị thay thế
cho những người bị suy giảm giác quan (ví dụ: bị mù).
Thiết bị hiển thị xúc giác thường được
sử dụng để bổ sung cho các dạng thiết bị hiển thị khác. Ví dụ, các bộ truyền động
điều khiển được tạo hình để được nhận diện bằng cách chạm vào, do đó để hệ thống
hình ảnh ở trạng thái sẵn sàng phục vụ cho các nhiệm vụ nhận thức khác. Khi thị
lực không thể vận dụng (thường trong hoạt động làm việc như lặn), có thể hữu
ích để chuyển tải thông về
tỉ lệ bằng cách
chạm vào, ví dụ: tạo ra sự dao động theo tỉ lệ để điều khiển tốc độ làm việc của đối tượng
đang được điều khiển.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Độ nhạy cảm đối với thiết bị hiển thị
xúc giác đặc biệt ở mức cao đối với bàn tay và do vậy trong hầu hết các trường
hợp, màn hình hiển thị sẽ được thiết kế để sử dụng bằng tay, và sẽ nằm trong tầm
với của người vận hành. Những thiết bị hiển thị như vậy sẽ không có cạnh hoặc
góc sắc nhọn. Nếu người vận hành luôn phải đeo găng tay, độ nhạy cảm với thiết
bị sẽ giảm dần, và điều này cần được tính đến khi thiết kế thiết bị hiển thị.
6.2 Yêu cầu đối
với việc nhận diện thiết bị hiển thị xúc giác
Thiết bị hiển thị xúc giác sẽ chỉ được
sử dụng khi người vận hành chỉ cần phân biệt giữa thiết bị hiển thị lần lượt
(ví dụ như khi định vị một tính năng điều khiển mã hóa xúc giác). Các thiết bị
hiển thị xúc giác sẽ không được sử dụng khi người vận hành phải phân biệt chúng
cùng một lúc. Các tính năng điều khiển mã hóa xúc giác hoặc các đối tượng sẽ có
các dạng hình học đơn giản để dễ dàng phân biệt với nhau (các ví dụ được trình
bày ở Hình 8), ngay cả khi các tính năng điều khiển và các đối tượng được nhóm
lại cùng nhau.
6.3 Yêu cầu đối
với việc diễn giải thiết bị hiển thị xúc giác
Trong một số trường hợp, giá trị thông
tin của một thiết bị hiển thị có thể được tăng lên bằng cách mã hóa xúc giác. Trong những
trường hợp đó, mã hóa xúc giác sẽ phù hợp hoặc tương đồng chức năng của tính
năng điều khiển đã mã hóa hoặc các đối tượng. Ví dụ, trong trường hợp các tính
năng điều khiển cánh tà của máy bay (flap), tính năng điều khiển thường được mô
phỏng để tương tự như thực tế phản hồi của cánh tà máy bay (flap). Trong
trường hợp các thiết bị hiển thị xúc giác bị rung chuyển (ví dụ: khi lượng rung
động truyền qua tay người vận hành chức năng điều khiển đó), độ nhạy cảm
đối với tác nhân xúc giác chỉ còn được phân bố trên một dải hẹp và cần được
tính đến.

Hình 8 - Bộ
các hình dạng có thể được phân biệt chỉ bằng cách chạm vào
Phụ lục A
(Tham khảo)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mỗi sự sai lệch so với chữ số Ả-rập đều
làm giảm khả năng đọc. Các con số khác nhau phải khác nhau đáng kể về hình dạng.
Chúng cần có càng ít điểm chung càng tốt. Khoảng trống xung quanh toàn phần hay
một phần bên trong các số phải càng rộng càng tốt. Khả năng nhận diện tốt được
bảo đảm khi các số có hình dạng được nêu trong Hình A.1.

Hình A.1
Các nguyên tắc khi thiết kế các chữ số
có hình dạng trên như sau:
1
Không có gạch ngang ở trên cùng để
khác với số 7
2
Một dòng hướng lên trên được uốn
cong để khác với số 7
3
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4
Mở ở trên cùng để khác với số 6
5
Gạch nằm ngang trên cùng, góc bên
phải nơi uốn các nhánh theo đường hướng lên, thẳng đứng; phần thấp hơn kết
thúc bằng một đường xiên hoặc nằm ngang để khác với số 3 và 9
6
Một phần trên mở để khác với số 8;
một phần phía trên được uốn cong để khác với số 4 và số 9 đảo ngược
7
Một đường xiên, thẳng hướng lên để
khác với số 2; một gạch thẳng đứng nhỏ ở phía bên trái của đường nằm ngang
nếu gạch ngang không được sử dụng ở giữa đường thẳng hướng lên trên
8
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9
Một đường xiên hướng lên trên hoặc
thẳng để khác với số 3, số 5 và số 6 đảo ngược
0
Một hình ô-van hoặc elip.
Thư mục tài
liệu tham khảo
[1] EN 292-1, Safety of machinery -
Basic concepts, general principles for design - Part 1: Basic terminology,
methodogy.
[2] EN 614-1, Safety of machinery -
Ergonomie design principles - Part 1: Terminology and general principles.
[3] EN ISO 9241, Ergonomic
requirements for office work with visual display terminals (VDTs).