Bài viết này PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP sẽ cung cấp đến quý khách hàng nội dung "Mẫu bản tự đánh giá xếp loại chất lượng viên chức năm 2026" chi tiết tại bài viết bên dưới:
>> Các trường hợp miễn, giảm, tạm dừng đóng kinh phí công đoàn từ 16/5/2026
>> Mẫu bản tự đánh giá xếp loại của cá nhân quý II năm 2026 của giáo viên
Mẫu bản tự đánh giá xếp loại chất lượng viên chức năm 2026 được thực hiện theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị định 90/2020/NĐ-CP.
Tải về mẫu bản tự đánh giá xếp loại chất lượng viên chức năm 2026 dưới đây:
![]() |
Mẫu bản tự đánh giá xếp loại chất lượng viên chức năm 2026 |

Mẫu bản tự đánh giá xếp loại chất lượng viên chức năm 2026
(Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
Căn cứ theo Điều 19 Nghị định 90/2020/NĐ-CP quy định Trình tự, thủ tục đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức như sau:
(i) Đối với viên chức là người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu:
- Viên chức tự đánh giá và xếp loại chất lượng:
Viên chức làm báo cáo tự đánh giá, mức xếp loại kết quả công tác theo chức trách, nhiệm vụ được giao theo mẫu số 03 của Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 90/2020/NĐ-CP.
- Nhận xét, đánh giá viên chức:
+ Tổ chức cuộc họp tại đơn vị nơi viên chức công tác để nhận xét và đánh giá đối với viên chức. Thành phần tham dự cuộc họp bao gồm toàn thể viên chức của đơn vị.
+ Trường hợp đơn vị có đơn vị cấu thành thì thành phần bao gồm tập thể lãnh đạo đơn vị, đại diện cấp ủy đảng, công đoàn, đoàn thanh niên cùng cấp và người đứng đầu các đơn vị cấu thành; đối với đơn vị có quy mô lớn thì người đứng đầu các đơn vị cấu thành có thể tham gia ý kiến bằng văn bản.
+ Viên chức trình bày báo cáo tự đánh giá kết quả công tác tại cuộc họp, các thành viên tham dự cuộc họp đóng góp ý kiến, các ý kiến phải được ghi vào biên bản và được thông qua tại cuộc họp.
- Lấy ý kiến nhận xét và đánh giá của cấp ủy đảng đơn vị nơi viên chức công tác.
- Xem xét, quyết định đánh giá và xếp loại chất lượng viên chức
+ Bộ phận tham mưu về công tác cán bộ của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đánh giá tổng hợp ý kiến nhận xét và đánh giá quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 19 Nghị định 90/2020/NĐ-CP và tài liệu liên quan (nếu có), đề xuất nội dung đánh giá và mức xếp loại chất lượng đối với viên chức.
+ Cấp có thẩm quyền quyết định đánh giá, xếp loại chất lượng đối với viên chức.
- Cấp có thẩm quyền đánh giá và xếp loại chất lượng viên chức thông báo bằng văn bản cho viên chức về kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng; quyết định hình thức công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi viên chức công tác, trong đó ưu tiên áp dụng hình thức công khai trên môi trường điện tử.
(ii) Đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý:
- Viên chức tự đánh giá và xếp loại chất lượng:
Viên chức làm báo cáo tự đánh giá kết quả công tác theo nhiệm vụ được giao theo mẫu số 03 của Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 90/2020/NĐ-CP.
- Nhận xét, đánh giá viên chức:
+ Tổ chức cuộc họp tại đơn vị nơi viên chức công tác để nhận xét và đánh giá đối với viên chức.
+ Thành phần tham dự cuộc họp bao gồm toàn thể viên chức của đơn vị hoặc toàn thể viên chức của đơn vị cấu thành nơi viên chức công tác trong trường hợp đơn vị có đơn vị cấu thành.
+ Viên chức trình bày báo cáo tự đánh giá kết quả công tác tại cuộc họp, các thành viên tham dự cuộc họp đóng góp ý kiến, các ý kiến phải được ghi vào biên bản và thông qua tại cuộc họp.
- Xem xét, quyết định đánh giá và xếp loại chất lượng viên chức:
+ Cấp có thẩm quyền đánh giá và xếp loại chất lượng căn cứ ý kiến tại cuộc họp nhận xét, đánh giá quy định tại điểm b khoản 2 Điều 19 Nghị định 90/2020/NĐ-CP quyết định nội dung đánh giá và mức xếp loại chất lượng đối với viên chức.
- Cấp có thẩm quyền đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức thông báo bằng văn bản cho viên chức và thông báo công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi viên chức công tác về kết quả đánh giá và xếp loại chất lượng viên chức; quyết định hình thức công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi viên chức công tác, trong đó ưu tiêu áp dụng hình thức công khai trên môi trường điện tử.
XEM CHI TIẾT: >>> Toàn bộ biểu mẫu đánh giá xếp loại công chức theo Nghị định 335/2025/NĐ-CP





