Tổng hợp những điểm mới về kê khai thuế, nộp thuế và cưỡng chế nợ thuế áp dụng từ 1/7/2026?
Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định hướng dẫn Luật Quản lý thuế 2025. Theo đó, các quy định liên quan đến kê khai thuế, nộp thuế và cưỡng chế nợ thuế có một số điểm mới như sau:
***Kê khai thuế:
(1) Về kỳ quyết toán thuế (Điều 9):
- Sửa đổi, bổ sung quy định về kỳ quyết toán thuế (điểm đ khoản 2). Theo đó, kỳ quyết toán thuế được xác định theo kỳ kế toán năm theo quy định của pháp luật về kế toán; riêng đối với thuế thu nhập cá nhân, kỳ quyết toán thuế được xác định theo năm dương lịch.
(2) Về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế (Điều 10):
- Sửa đổi quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với loại thuế khai theo từng lần phát sinh là ngày thứ mười (10) kể từ ngày tiếp theo ngày phát sinh nghĩa vụ thuế (tại khoản 1).
Trước đây, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với loại thuế khai theo từng lần phát sinh là ngày thứ mười (10) kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế.
- Sửa đổi quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế là ngày cuối cùng của tháng thứ ba kể từ ngày kết thúc kỳ quyết toán thuế (điểm a khoản 5).
Trước đây, thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế là ngày cuối cùng của tháng thứ ba kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính.
- Sửa đổi quy định về thời hạn quyết toán thuế năm đầu tiên của cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày tính trong 01 năm dương lịch nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên là ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ ngày kết thúc tháng tính đủ 12 tháng liên tục (điểm c khoản 5).
Trước đây, theo quy định tại điểm e.2 khoản 2 Điều 26 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì thời hạn quyết toán thuế năm đầu tiên là ngày thứ 90 kể từ ngày tính đủ 12 tháng liên tục.
- Về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với hoạt động xuất bán khí thiên nhiên (khoản 6): Bổ sung quy định mới: hướng dẫn cụ thể thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, khoản thu khác đối với hoạt động xuất bán khí thiên nhiên, phù hợp với pháp luật thuế: Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, khoản thu khác chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế, khoản thu khác. Tháng phát sinh nghĩa vụ thuế là tháng của thời điểm xác định thuế theo quy định của pháp luật về thuế (pháp luật về thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN); tháng phát sinh nghĩa vụ khoản thu khác là tháng bán khí (khoản 6 Điều 10).
Trước đây thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với hoạt động xuất bán khí thiên nhiên chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế (điểm a khoản 1 Điều 44 Luật QLT số 38 và điểm e khoản 1 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).
- Sửa đổi quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản (tại khoản 8):
+ Đối với bất động sản đã được cấp Giấy chứng nhận, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế là ngày cuối cùng của thời hạn phải đăng ký biến động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
+ Đối với nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế là ngày thứ mười (10) kể từ ngày tiếp theo ngày hợp đồng chuyển nhượng hoặc giấy tờ pháp lý chứng minh quyền được nhận thừa kế, quà tặng có hiệu lực.
Trước đây, Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định; đối với bất động sản đã được cấp Giấy chứng nhận, trường hợp bên chuyển nhượng trực tiếp khai, nộp thuế thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế là ngày thứ mười (10) kể từ ngày hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực; trường hợp bên nhận chuyển nhượng khai, nộp thuế thay thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế là thời điểm thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản. Đối với nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế là thời điểm cá nhân nộp hồ sơ khai thuế với cơ quan thuế.
(3) Về các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế, khoản thu khác (Điều 11):
- Sửa đổi quy định tổ chức, cá nhân phải nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập được miễn thuế của cá nhân quy định tại các khoản 1, 2, 17 Điều 4, khoản 19 Điều 4 (chỉ áp dụng đối với thu nhập của chuyên gia từ dự án khởi nghiệp sáng tạo) và các khoản 2, 3, 4 Điều 5 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 (khoản 2).
Trước đây, cá nhân được miễn thuế thu nhập cá nhân thì không phải nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp cá nhân nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản và cá nhân chuyển nhượng bất động sản.
- Sửa đổi quy định về khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công đối với trường hợp cá nhân có số thuế phải nộp thêm từ 50.000 đồng trở xuống (thuộc trường hợp được miễn thuế) (khoản 2).
Trước đây, cá nhân có số tiền thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công phải nộp thêm sau quyết toán từ 50.000 đồng trở xuống không phải nộp hồ sơ khai quyết toán thuế. Theo quy định mới, cá nhân thuộc trường hợp này vẫn phải nộp hồ sơ khai quyết toán thuế để cơ quan thuế có căn cứ xác định cá nhân thuộc trường hợp được miễn thuế theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 32 Nghị định 252/2026/NĐ-CP.
- Bổ sung quy định người nộp thuế phải nộp hồ sơ khai thuế đối với nghĩa vụ thuế phát sinh sau thời điểm nộp hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế (khoản 5).
- Bổ sung quy định bên Việt Nam khấu trừ, nộp thay thuế GTGT, TNDN cho nhà thầu nước ngoài đăng ký khai thuế theo tháng mà trong tháng không phát sinh việc khấu trừ thuế của nhà thầu nước ngoài thì không phải nộp hồ sơ khai thuế (khoản 8).
Trước đây, trường hợp bên Việt Nam khấu trừ, nộp thay thuế cho nhà thầu nước ngoài đăng ký khai thuế theo tháng thì đều phải nộp hồ sơ khai thuế tháng, không phân biệt có khấu trừ hay không có khấu trừ thuế trong tháng.
- Bổ sung quy định cụ thể tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp được hoàn thuế GTGT từ các nguồn viện trợ không hoàn lại, ưu đãi miễn trừ ngoại giao thì không phải nộp hồ sơ khai thuế (khoản 9).
- Bổ sung quy định người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế đối với trường hợp cơ quan thuế tính thuế, thông báo thuế nếu cơ quan thuế đã khai thác được thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế, thông tin đã được cơ quan có thẩm quyền chuyển đến; trừ trường hợp người nộp thuế có đề nghị miễn, giảm trên hồ sơ khai thuế, khoản thu khác (khoản 10). Cơ quan thuế sẽ công bố công khai các loại hồ sơ khai thuế, khoản thu khác đủ điều kiện thực hiện theo quy định này.
Trước đây, người nộp thuế phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền để cơ quan thuế có căn cứ tính thuế, thông báo thuế.
- Bổ sung quy định bên Việt Nam trả thu nhập cho tổ chức, cá nhân nước ngoài từ đầu tư trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam và từ các khoản cho vay đối với Nhà nước, Chính phủ Việt Nam thì không phải nộp hồ sơ khai thuế nếu các khoản thu nhập này không chịu thuế GTGT và được miễn thuế TNDN (khoản 11).
Trước đây, bên Việt Nam phải nộp hồ sơ khai thuế nhà thầu khi trả thu nhập cho tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Việc bổ sung quy định nhằm giảm thủ tục hành chính đối với các khoản thu nhập không phát sinh nghĩa vụ thuế, đồng thời bảo đảm thống nhất trong việc thực hiện chính sách thuế.
(4) Về khai bổ sung hồ sơ khai thuế (Điều 12):
- Bổ sung quy định cụ thể về thủ tục không chấp nhận hồ sơ khai bổ sung của người nộp thuế theo đề nghị của cơ quan điều tra (khoản 2). Trong đó, quy định cơ quan điều tra khi gửi văn bản đề nghị cho cơ quan thuế phải nêu rõ thông tin làm căn cứ xác định (bao gồm: tên người nộp thuế, mã số thuế, loại thuế, kỳ tính thuế, thời gian áp dụng); trường hợp văn bản không xác định rõ thời gian áp dụng thì việc kết thúc yêu cầu của cơ quan điều tra được thực hiện khi cơ quan điều tra có văn bản kết thúc yêu cầu.
Cơ quan điều tra được yêu cầu người nộp thuế không khai bổ sung hồ sơ khai thuế khi người nộp thuế bị điều tra trong vụ việc, vụ án do có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế hoặc do đã có quyết định khởi tố vụ án hình sự.
- Quy định khai bổ sung, điều chỉnh hồ sơ khai thuế đối với nội dung, thời kỳ đã được thanh tra, kiểm tra (khoản 4): người nộp thuế được điều chỉnh hồ sơ khai thuế đối với kỳ đã thanh tra, kiểm tra thông qua hồ sơ giải trình; cơ quan thuế rà soát, thông báo chấp nhận hoặc không chấp nhận. Việc điều chỉnh chỉ áp dụng đối với nội dung chưa được xử lý tại kết luận, quyết định xử lý và không làm thay đổi hiệu lực của kết luận, quyết định đã ban hành; người nộp thuế bị xử lý và xử phạt vi phạm hành chính về thuế như đối với trường hợp thanh tra, kiểm tra phát hiện.
- Quy định hai trường hợp khai bổ sung theo kết luận, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
+ Khi có kết luận, quyết định liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế nhưng không thuộc trường hợp xử lý sau thanh tra, kiểm tra và không thuộc điểm b, người nộp thuế khai bổ sung nếu việc khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp hoặc giảm số thuế được khấu trừ, miễn, giảm, hoàn, giảm lỗ (áp dụng cả đối với khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý thu) (điểm a khoản 5);
+ Khi cơ quan điều tra, Tòa án, Kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra, cơ quan thuế kết luận người bán vi phạm về hóa đơn không hợp pháp, người mua sử dụng hóa đơn thuộc phạm vi kết luận phải khai bổ sung để điều chỉnh nghĩa vụ thuế, kể cả kỳ đã được thanh tra, kiểm tra (điểm b khoản 5)
- Người nộp thuế thực hiện khai bổ sung hồ sơ khai thuế cho kỳ phát sinh sai, sót; riêng sai, sót về số thuế giá trị gia tăng đầu vào thì thực hiện kê khai theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng (khoản 6).
- Bổ sung quy định người nộp thuế chưa được thanh tra, kiểm tra hoặc hồ sơ khai thuế không thuộc phạm vi, thời kỳ thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền mà người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai, sót làm tăng số thuế, khoản thu khác phải nộp hoặc giảm số thuế, khoản thu khác đã được miễn, giảm, hoàn hoặc giảm số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ chuyển kỳ sau nhưng hồ sơ khai thuế đã quá thời hạn 05 năm kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế thì không được khai bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng được giải trình hồ sơ khai thuế với cơ quan thuế (khoản 8).
Trước đây, người nộp thuế được khai bổ sung hồ sơ khai thuế trong thời hạn 10 năm kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế.
Quy định này nhằm bảo đảm cân bằng giữa quyền khai bổ sung của người nộp thuế với yêu cầu phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
(5) Về khai thuế, khoản thu khác đối với hoạt động dầu khí và bán dầu khí (Điều 13):
- Bổ sung quy định khai theo từng lần phát sinh đối với tiền đền bù do không thực hiện đầy đủ cam kết tối thiểu của nhà thầu; phí nghiên cứu của nước chủ nhà; các khoản thu khác theo thỏa thuận bằng văn bản ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam với bên ký kết nước ngoài để phù hợp với Luật Dầu khí 2022 và các thỏa thuận dầu khí đã ký của Chính phủ Việt Nam (điểm b khoản 3);
- Làm rõ khai theo từng lần phát sinh và khai quyết toán năm đối với các khoản thu từ tiền kết dư của phần dầu khí để lại của Liên doanh Vietsovpetro tại Lô 09.1 (khoản phụ thu, thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền lãi dầu khí) (điểm c khoản 3 và khoản 5);
- Bổ sung quy định cụ thể về việc tạm nộp và kê khai điều chỉnh thuế xuất khẩu dầu khí trong trường hợp tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan chưa có giá chính thức, bảo đảm thống nhất giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật hải quan (khoản 4).
Trước đây các khoản thuế khai theo tháng, khai theo quý, khai theo từng lần phát sinh, khai theo từng lần xuất bán và khai quyết toán đối với hoạt động dầu khí được thực hiện theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.
Việc sửa đổi, bổ sung quy định này nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về khai, nộp thuế đối với hoạt động dầu khí; nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với các giao dịch chuyển nhượng quyền lợi tham gia hợp đồng dầu khí và hoạt động xuất khẩu dầu khí; đồng thời bảo đảm thống nhất giữa pháp luật quản lý thuế với pháp luật chuyên ngành và điều ước quốc tế có liên quan.
(6) Về đồng tiền khai thuế, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu (Điều 14)
- Bổ sung về tỷ giá quy đổi để bao quát trường hợp ngân hàng thương mại nơi đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai thường xuyên có giao dịch không công bố tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình của đồng tiền sử dụng lập báo cáo tài chính hợp nhất của công ty ty mẹ tối cao trong trường hợp đồng tiền này khác Đồng Việt Nam, cụ thể: bổ sung quy định trường hợp không có tỷ giá quy định theo quy định tại Nghị định 236/2025/NĐ-CP thì tỷ giá quy đổi được xác định theo tỷ giá tính chéo do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại ngày gần nhất trước ngày khai thuế (điểm a.1 khoản 3);
- Bổ sung quy định làm rõ tỷ giá quy đổi áp dụng trong trường hợp NNT khai bổ sung hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung khi số thuế bổ sung phải nộp trên Tờ khai thông tin theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu được trình bày bằng đồng tiền khác Đồng Việt Nam và đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai lựa chọn kê khai và nộp thuế bằng Đồng Việt Nam (điểm a.2 khoản 3);
Trước đây, quy định về đồng tiền khai thuế, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu được quy định tại Điều 17 Nghị định 236/2025/NĐ-CP. Theo đó, trường hợp số thuế bổ sung phải nộp trên Tờ khai thông tin theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu được trình bày bằng đồng tiền khác Đồng Việt Nam và đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai lựa chọn kê khai và nộp thuế bằng Đồng Việt Nam thì tỷ giá quy đổi là tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai thường xuyên có giao dịch tại ngày nộp hồ sơ khai thuế.
(7) Về đồng tiền khai thuế, nộp thuế, tỷ giá quy đổi và tỷ giá tính thuế đối với hoạt động dầu khí (Điều 14)
- Sửa đổi, bổ sung quy định về đồng tiền khai, nộp thuế theo từng lần xuất bán đối với dầu thô/theo tháng đối với khí thiên nhiên, theo hướng gắn đồng tiền khai nộp thuế với đồng tiền thực tế nhận được từ hoạt động thanh toán (nhận thanh toán bằng đồng Đô la Mỹ thì khai nộp bằng đồng Đô la Mỹ, nhận thanh toán bằng đồng Việt Nam thì khai nộp thuế bằng đồng Việt Nam, trừ trường hợp được để lại ngoại tệ để nộp thuế bằng VNĐ theo quy định của Chính phủ đối với Tập đoàn PVN) (điểm b.1.1 và b.1.2 khoản 1);
- Bổ sung quy định đồng tiền khai thuế, khoản thu khác từ tiền kết dư của phần dầu khí để lại đối với hoạt động dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro tại Lô 09.1 là đồng Đô la Mỹ (điểm b.1.3 khoản 1);
- Bổ sung quy định đồng tiền khai quyết toán là đồng Đô la Mỹ, phù hợp với đặc thù của hoạt động dầu khí và đồng tiền kế toán quy định tại Hợp đồng dầu khí (điểm b.2 khoản 1).
- Bổ sung quy định về tỷ giá khai thuế quy đổi đối với khai thuế, khoản thu khác theo tháng, quý, từng lần phát sinh và từng lần xuất bán đối với hoạt động dầu khí và bán dầu khí là tỷ giá thực tế thanh toán của giao dịch bán dầu khí; (điểm b.1 khoản 3);
- Bổ sung quy định trường hợp Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam được khai nộp thuế và các khoản thu khác bằng Đồng Việt Nam theo quy định của Chính phủ thì tỷ giá khai thuế quy đổi từ đồng ngoại tệ thực tế nhận được trong thanh toán sang Đồng Việt Nam là tỷ giá mua bán chuyển khoản trung bình của ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế thường xuyên có giao dịch tại ngày nộp hồ sơ khai thuế (điểm b.2 khoản 3);
- Bổ sung tỷ giá tính thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động xuất bán dầu trong nước là tỷ giá bán chuyển khoản của ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế nhận thanh toán theo hợp đồng tại thời điểm lập hóa đơn theo quy định của pháp luật về hóa đơn (điểm b.3 khoản 3).
* Trước đây tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và các Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định:
- Hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí (trừ trường hợp dầu thô, condensate, khí thiên nhiên bán tại thị trường Việt Nam hoặc Chính phủ có quy định khác) thực hiện khai, nộp vào ngân sách nhà nước bằng loại ngoại tệ tự do chuyển đổi sử dụng trong giao dịch thanh toán (điểm a khoản 1 Điều 4 Thông tư 80/2021/TT-BTC). Theo đó dầu khí bán trong nước được khai nộp thuế bằng VND, dầu khí xuất khẩu được khai nộp thuế bằng ngoại tệ.
- Đối với dầu khí bán trong nước khai nộp thuế bằng VND, việc áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế được thực hiện theo quy định pháp luật về kế toán (khoản 2 Điều 4 Thông tư 80/2021/TT-BTC).
Việc sửa đổi, bổ sung quy định này nhằm đồng bộ với Luật Quản lý thuế 2025 và các pháp luật chuyên ngành; hoàn thiện cơ chế xác định đồng tiền khai thuế, nộp thuế và tỷ giá quy đổi đối với các hoạt động đặc thù, nhất là hoạt động dầu khí và thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu, góp phần bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện.
***Nộp thuế:
Hoàn thiện quy định về nộp thuế đối với trường hợp cơ quan thuế tính thuế, khoản thu khác, thông báo nộp thuế, khoản thu khác (Điều 21):
- Bổ sung quy định trường hợp cơ quan thuế tính thuế lại do cơ sở dữ liệu sai lệch, theo văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là 30 ngày với điều chỉnh tăng, trường hợp giảm số tiền thuế phải nộp thì thời hạn nộp thực hiện theo thời hạn ghi trên Thông báo nộp thuế, khoản thu khác lần đầu (khoản 9, khoản 10); trường hợp CQT tính tiền thuê đất theo hồ sơ khai thuế thì thời hạn nộp tiền thuê đất năm đầu tiên là 30 ngày, kể từ ngày bắt đầu sử dụng đất; từ năm thứ hai trở đi thực hiện theo thời hạn quy định tại điểm a.2 khoản 3 Điều 21 Nghị định 252/2026/NĐ-CP (điểm a.3 khoản 3).
- Sửa đổi quy định về thời hạn nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền sử dụng khu vực biển. Theo đó, thời hạn nộp được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành (khoản 6).
***Cưỡng chế nợ thuế (Điều 65 đến Điều 73):
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế; cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế với các cơ quan, tổ chức có liên quan; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và tổ chức thực hiện cưỡng chế, góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi nợ thuế, cụ thể:
(1) Quy định chung về cưỡng chế (Điều 65):
- Bổ sung quy định chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tổ chức có số tiền thuế nợ dưới 3 triệu đồng, hộ kinh doanh, cá nhân có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng, trừ trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (điểm b khoản 3).
- Sửa đổi quy định quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (điểm c khoản 4). Quyết định cưỡng chế sẽ được chấm dứt hiệu khi NNT nộp đủ số tiền thuế nợ bị cưỡng chế hoặc thuộc trường hợp chấm dứt theo quy định (điểm d khoản 4).
Trước đây, quyết định cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản có hiệu lực trong 30 ngày, còn quyết định cưỡng chế bằng các biện pháp khác có hiệu lực trong 01 năm.
- Sửa đổi thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế, theo đó Nghị định quy định cho phép giao quyền cho cấp phó ban hành quyết định cưỡng chế (điểm b khoản 6).
Trước đây, việc ban hành quyết định cưỡng chế thuộc thẩm quyền của cấp trưởng, cấp trưởng chỉ giao quyền cho cấp phó khi vắng mặt tại cơ quan.
- Bổ sung quy định về việc tổ chức được Nhà nước giao quản lý thu khoản thu khác được kiến nghị cơ quan thuế thực hiện biện pháp cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn. Các cơ quan được giao quản lý thu có trách nhiệm xác định số tiền còn nợ, tiền chậm nộp, ban hành thông báo đôn đốc nộp trước khi kiến nghị cơ quan thuế áp dụng biện pháp cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn (khoản 7).
Việc bổ sung quy định này nhằm tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thuế và các tổ chức được Nhà nước giao quản lý thu khoản thu khác trong việc thu hồi các khoản nợ.
(2) Về cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản (Điều 66):
- Sửa đổi, bổ sung thêm các loại tài khoản ngân hàng không thực hiện cưỡng chế bao gồm: tài khoản nhận kinh phí bảo trì nhà chung cư theo quy định của pháp luật về nhà ở; tài khoản là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng; tài khoản quỹ bình ổn giá xăng dầu theo quy định của pháp luật về kinh doanh xăng dầu (khoản 2).
Trước đây, chỉ quy định không áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài khoản nhận nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi tại tổ chức tín dụng.
Việc sửa đổi quy định này nhằm bảo đảm biện pháp cưỡng chế chỉ áp dụng đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của người nộp thuế, không áp dụng đối với các tài khoản mà người nộp thuế chỉ được giao quản lý, sử dụng hoặc giữ hộ nguồn tiền của Nhà nước, người dân hoặc tổ chức khác, qua đó bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan và phù hợp với bản chất pháp lý của từng loại tài khoản.
- Bổ sung quy định về việc rà soát, cập nhật thông tin tài khoản của người nộp thuế sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế. Theo đó, sau khi cơ quan quản lý thuế thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tiếp tục rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu. Trường hợp phát hiện người nộp thuế phát sinh tài khoản mới tại tổ chức tín dụng thì cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định cưỡng chế bổ sung đối với các tài khoản mới phát sinh (điểm c khoản 4).
Việc bổ sung quy định này nhằm bảo đảm cơ quan quản lý thuế kịp thời áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với các tài khoản mới phát sinh của người nộp thuế trong thời gian quyết định cưỡng chế còn hiệu lực, tránh bỏ sót nguồn tiền có thể thu hồi.
- Sửa đổi quy định về quyết định cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản, quyết định cưỡng chế bao gồm đồng thời cả hai nội dung: phong tỏa tài khoản và trích tiền từ tài khoản. Theo đó, ngay sau khi nhận được quyết định cưỡng chế, tổ chức tín dụng có trách nhiệm phong tỏa tài khoản của người nộp thuế, đồng thời thông báo số dư tài khoản cho cơ quan thuế để ban hành lệnh thu. Trên cơ sở lệnh thu của cơ quan thuế, tổ chức tín dụng thực hiện trích chuyển số tiền bị cưỡng chế vào tài khoản thu ngân sách nhà nước ngay trong ngày hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo. Toàn bộ quá trình trao đổi thông tin, quyết định cưỡng chế và lệnh thu giữa cơ quan thuế với tổ chức tín dụng được thực hiện bằng phương thức điện tử (khoản 5).
Việc sửa đổi quy định này nhằm chuẩn hóa quy trình cưỡng chế tài khoản theo hướng điện tử, tăng cường kết nối, trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và tổ chức tín dụng, rút ngắn thời gian xử lý, bảo đảm việc phong tỏa và trích chuyển tiền được thực hiện kịp thời, chính xác.
(3) Về cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập (Điều 67):
- Bỏ quy định cưỡng chế khấu trừ tiền lương đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho các đối tượng này.
- Sửa đổi quy định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền lương đối với người lao động có hợp đồng từ 06 tháng xuống 03 tháng, bảo đảm thống nhất với quy định về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động có hợp đồng từ 03 tháng trở lên (điểm b khoản 1).
(4) Về cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn (Điều 69):
- Sửa đổi quy định về sử dụng hóa đơn theo từng lần phát sinh đối với người nộp thuế đang bị cưỡng chế hóa đơn, người nộp thuế phải nộp 18% tổng giá trị thanh toán trên hóa đơn; đồng thời bổ sung cơ chế tạm dừng áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản khi người nộp thuế đã nộp đủ số tiền này. Theo đó, người nộp thuế đăng ký với cơ quan thuế một tài khoản để thực hiện tạm dừng cưỡng chế; thời gian tạm dừng tối đa 10 ngày làm việc, số tiền được tạm dừng cưỡng chế tương ứng tổng giá trị thanh toán của hóa đơn được sử dụng (khoản 4).
Trước đây, người nộp thuế phải nộp 18% doanh thu trên hóa đơn trước khi được sử dụng hóa đơn theo từng lần phát sinh.
Việc sửa đổi, bổ sung này giúp người nộp thuế có thêm dòng tiền để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh khi đã chấp hành đầy đủ quy định về sử dụng hóa đơn trong thời gian bị cưỡng chế.
- Làm rõ quy định về cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn đối với người nộp thuế tại trụ sở chính trong trường hợp cơ quan thuế quản lý trực tiếp chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm kinh doanh không đủ điều kiện hoặc không thể thực hiện biện pháp cưỡng chế (khoản 6).
(5) Về cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản khác của người nộp thuế bị cưỡng chế do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (cưỡng chế bên thứ ba) (Điều 70):
- Sửa đổi quy định về trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với bên thứ ba; quy định áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế đối với bên thứ ba khi cơ quan thuế có đủ căn cứ xác định bên thứ ba đang có khoản nợ hoặc đang nắm giữ tiền, tài sản của người nộp thuế bị cưỡng chế (khoản 1).
Trước đây, biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ.
- Sửa đổi quy định về trách nhiệm của bên thứ ba, trường hợp bên thứ ba không thực hiện nộp thay cho người nộp thuế hoặc không chuyển giao tài sản thì bị xử phạt vi phạm hành chính (điểm c khoản 5).
Trước đây, bên thứ ba không thực hiện nghĩa vụ nộp thay cho người nộp thuế bị cưỡng chế thì bên thứ ba sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.
- Bổ sung quy định về cưỡng chế đối với trường hợp bên thứ ba đang nắm giữ tài sản của người nộp thuế bị cưỡng chế. Theo đó, trường hợp tài sản không phải là khoản nợ đến hạn phải trả hoặc tiền của người nộp thuế thì việc cưỡng chế được thực hiện theo quy định về kê biên tài sản và bán đấu giá tài sản kê biên (điểm b khoản 4).
- Sửa đổi quy định về chấm dứt hiệu lực quyết định cưỡng chế đối với bên thứ ba, quyết định cưỡng chế chấm dứt hiệu lực khi bên thứ ba đã nộp đủ số tiền theo quyết định cưỡng chế (điểm d.2 khoản 4 Điều 65).
Trước đây, quyết định cưỡng chế chỉ chấm dứt hiệu lực khi người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế nợ.
(6) Về cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên (Điều 71):
- Sửa đổi quy định về trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên. Nghị định quy định áp dụng ngay biện pháp này khi cơ quan thuế có đủ căn cứ và thông tin hợp pháp về tài sản thuộc sở hữu của người nộp thuế bị cưỡng chế (khoản 1).
Trước đây, biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ.
- Bổ sung quy định để rõ phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan thuế và UBND trong việc tổ chức thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên. Theo đó, cơ quan thuế thực hiện xác minh tài sản, lập biên bản xác định tài sản thuộc diện kê biên và yêu cầu người nộp thuế cung cấp hồ sơ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu tài sản; UBND cấp xã, UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc kê biên và bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định sau khi nhận được văn bản đề nghị của cơ quan thuế (khoản 4, khoản 5).
- Sửa đổi quy định về xử lý số tiền thu được từ bán đấu giá tài sản kê biên, ưu tiên thanh toán chi phí cưỡng chế trước khi nộp tiền thuế nợ (điểm b khoản 7).
Trước đây, số tiền thu được được ưu tiên nộp tiền thuế nợ trước, sau đó mới thanh toán chi phí cưỡng chế.
- Sửa đổi quy định về chấm dứt hiệu lực quyết định cưỡng chế kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên, quyết định cưỡng chế chấm dứt hiệu lực khi tài sản kê biên đã được bán đấu giá và số tiền thu được đã được xử lý theo quy định (điểm d.3 khoản 4 Điều 65).
Trước đây, quyết định cưỡng chế chỉ chấm dứt hiệu lực khi người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế nợ.
(7) Về cưỡng chế bằng biện pháp nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản (Điều 72):
Bổ sung biện pháp cưỡng chế mới được quy định tại Luật Quản lý thuế. Cơ quan quản lý thuế nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các điều kiện sau:
- Không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký quá 03 năm kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và người nộp thuế không nộp hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
- Cơ quan quản lý thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó theo quy định trong thời gian từ 03 năm trở lên nhưng không thu được tiền thuế nợ.
(8) Về cưỡng chế bằng biện pháp thu hồi giấy phép (Điều 73):
- Sửa đổi quy định về trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy phép (tại khoản 1) gồm: (i) người nộp thuế đã bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó từ 03 năm trở lên nhưng vẫn không thu được tiền thuế nợ (trừ doanh nghiệp, hợp tác xã đã nộp đơn đề nghị phá sản); (ii) tổ chức, cá nhân nước ngoài đăng ký kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam; (iii) trường hợp Tòa án trả lại đơn yêu cầu hoặc quyết định không mở thủ tục phá sản.
Trước đây, biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ.
Việc sửa đổi này làm rõ đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy phép, tạo cơ sở pháp lý thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện.

Tổng hợp những điểm mới về kê khai thuế, nộp thuế và cưỡng chế nợ thuế áp dụng từ 1/7/2026?
Chế độ ưu tiên đối với người nộp thuế được cơ quan thuế thực hiện ra sao?
Theo khoản 4 Điều 48 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định việc cơ quan thuế thực hiện áp dụng chế độ ưu tiên như sau:
- Việc công nhận, gia hạn, tạm dừng, thu hồi và cấp lại chế độ ưu tiên được thực hiện tự động trên hệ thống công nghệ thông tin của ngành thuế;
- Thủ trưởng cơ quan thuế quyết định công nhận, gia hạn, tạm dừng, thu hồi và cấp lại chế độ ưu tiên đối với người nộp thuế đáp ứng điều kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 48 Nghị định 252/2026/NĐ-CP trên cơ sở kết quả đánh giá mức độ tuân thủ và phân loại rủi ro được thực hiện tự động trên hệ thống công nghệ thông tin quản lý thuế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế gửi quyết định đến tài khoản giao dịch thuế điện tử của người nộp thuế.
- Cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế có trách nhiệm rà soát, xác nhận việc đáp ứng các điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên, tổ chức thực hiện, theo dõi mức độ tuân thủ của người nộp thuế và thực hiện hỗ trợ, giám sát việc duy trì các điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên theo quy định;
- Thiết lập, vận hành hệ thống kết nối, chia sẻ dữ liệu điện tử giữa cơ quan thuế và người nộp thuế ưu tiên nhằm phục vụ công tác quản lý tuân thủ, đánh giá rủi ro và cảnh báo sớm theo thời gian gần thực.
Thời điểm lập hóa đơn đối với trường hợp xuất khẩu hàng hóa là khi nào?
Căn cứ khoản 1 Điều 9 Nghị định 254/2026/NĐ-CP quy định thời điểm lập hóa đơn như sau:
Thời điểm lập hóa đơn
1. Thời điểm lập hóa đơn đối với bán hàng hóa (bao gồm cả bán, chuyển nhượng tài sản công và bán hàng dự trữ quốc gia) là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Đối với xuất khẩu hàng hóa (bao gồm cả gia công xuất khẩu), thời điểm lập hóa đơn thương mại điện tử, hóa đơn giá trị gia tăng điện tử hoặc hóa đơn bán hàng điện tử do người bán tự xác định nhưng chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan theo quy định pháp luật về hải quan.
2. Thời điểm lập hóa đơn đối với cung cấp dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ (bao gồm cả cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài) không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Trường hợp người cung cấp dịch vụ có thu tiền trước hoặc trong khi cung cấp dịch vụ thì thời điểm lập hóa đơn là thời điểm thu tiền (không bao gồm trường hợp thu tiền đặt cọc theo quy định Bộ luật Dân sự để đảm bảo thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ).
...
Theo quy định trên, đối với xuất khẩu hàng hóa (bao gồm cả gia công xuất khẩu), thời điểm lập hóa đơn thương mại điện tử, hóa đơn giá trị gia tăng điện tử hoặc hóa đơn bán hàng điện tử do người bán tự xác định nhưng chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan theo quy định pháp luật về hải quan.
Như vậy, đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa thì người bán được tự xác định thời điểm lập hóa đơn nhưng chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan theo quy định pháp luật về hải quan.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];