Tất cả bệnh viện sẽ không sử dụng hồ sơ bệnh án giấy từ ngày 01/01/2027 có đúng không?
Ngày 09/03/2026, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 586/QĐ-BYT năm 2026 phê duyệt Kế hoạch triển khai hồ sơ bệnh án điện tử tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc năm 2026.
Trong đó, tại Mục I Kế hoạch triển khai hồ sơ bệnh án điện tử tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc năm 2026 được ban hành kèm theo Quyết định 586/QĐ-BYT năm 2026 có quy định như sau:
Mục đích
- Bảo đảm 100% các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc hoàn thành triển khai hồ sơ bệnh án điện tử vào 31/12/2026. Trong đó, tất cả các bệnh viện (bao gồm bệnh viện công lập, bệnh viện tư nhân) không sử dụng hồ sơ bệnh án giấy từ ngày 01/01/2027.
- Bảo đảm việc triển khai hồ sơ bệnh án điện tử tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để kết nối đồng bộ, quản lý dữ liệu sức khỏe người dân theo vòng đời tại tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc.
Theo quy định trên, bảo đảm 100% các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc hoàn thành triển khai hồ sơ bệnh án điện tử vào 31/12/2026.
Đặc biệt, từ ngày 01/01/2027, tất cả các bệnh viện, cả bệnh viện công lập, bệnh viện tư nhân đều không sử dụng hồ sơ bệnh án giấy.
Tất cả bệnh viện sẽ không sử dụng hồ sơ bệnh án giấy từ ngày 01/01/2027 có đúng không? (Hình từ Internet)
Hiện nay, khi đi khám bệnh có cần mang theo thẻ BHYT bản giấy nữa không?
Ngày 03/02/2026, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 09/2026/TT-BTC về việc tạo lập sổ BHXH, thẻ BHYT bản điện tử.
Trong đó, tại Điều 6 Thông tư 09/2026/TT-BTC có quy định về sử dụng thẻ BHYT điện tử như sau:
Sử dụng sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử
1. Người tham gia truy cập ứng dụng Định danh điện tử quốc gia (VNeID) mức độ 2 hoặc ứng dụng Bảo hiểm xã hội số (VssID) hoặc hòm thư điện tử (Email) nhận và sử dụng sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; sử dụng thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử để khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
2. Cơ quan, tổ chức thực hiện giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật không yêu cầu cung cấp sổ bảo hiểm xã hội bản giấy khi người tham gia nộp sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử.
3. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế không yêu cầu người tham gia cung cấp thẻ bảo hiểm y tế bản giấy khi khám bệnh, chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử và có trách nhiệm tra cứu giá trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm.
Theo đó, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT không được yêu cầu người tham gia xuất trình thẻ BHYT bản giấy khi người đó khám, chữa bệnh bằng thẻ BHYT điện tử, đồng thời có trách nhiệm tra cứu giá trị sử dụng thẻ BHYT trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm.
Đồng nghĩa với việc, nếu người dân không có thẻ BHYT bản điện tử thì khi đi khám, chữa bệnh BHYT vẫn phải mang theo thẻ BHYT bản giấy
Cơ quan thuế và cơ quan BHXH có trao đổi thông tin không?
Căn cứ theo Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 một số cụm từ này bị bãi bỏ bởi điểm s khoản 1 Điều 62 Luật Thanh tra 2025 quy định về quyền hạn của cơ quan bảo hiểm xã hội như sau:
Quyền hạn của cơ quan bảo hiểm xã hội
1. Yêu cầu người sử dụng lao động xuất trình sổ quản lý lao động, thang lương, bảng lương và thông tin, tài liệu khác liên quan đến việc đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
2. Được cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan cấp giấy chứng nhận hoạt động hoặc giấy phép hoạt động kết nối, chia sẻ thông tin hoặc cung cấp bản sao giấy phép hoạt động, giấy chứng nhận hoạt động hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh để rà soát, kiểm tra việc thực hiện đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với doanh nghiệp, tổ chức thành lập mới.
3. Được cơ quan thuế cung cấp thông tin về chi phí tiền lương để tính thuế của người sử dụng lao động và các thông tin khác có liên quan đến việc tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
4. Từ chối chi trả chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế khi yêu cầu chi trả không đúng quy định của pháp luật; trường hợp từ chối chi trả phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
5. Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, việc thực hiện hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; việc đóng, chi trả bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
6. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, quỹ bảo hiểm y tế.
7. Xử lý vi phạm pháp luật hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
Như vậy, cơ quan thuế và cơ quan BHXH có trao đổi thông tin với nhau.
Việc trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và cơ quan BHXH được thực hiện trên cơ sở phối hợp cung cấp dữ liệu theo quy định pháp luật.
Cụ thể, cơ quan thuế cung cấp cho cơ quan BHXH các thông tin liên quan đến chi phí tiền lương làm căn cứ tính thuế của người sử dụng lao động và các thông tin khác có liên quan đến việc tham gia bảo hiểm xã hội.
Đồng thời, hai cơ quan phối hợp trao đổi dữ liệu theo cơ chế quản lý thuế và pháp luật về bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo việc đối chiếu, kiểm tra và quản lý nghĩa vụ của người sử dụng lao động.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];