- Phản hồi chính thức của BTC về đề xuất khoản tiền ăn trưa tính thuế TNCN tối đa 1,2 triệu/người?
- Các khoản phụ cấp được trừ khi tính thuế TNCN từ tiền công tiền lương theo dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế TNCN 2025?
- Thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công được xác định tại thời điểm nào?
Phản hồi chính thức của BTC về đề xuất khoản tiền ăn trưa tính thuế TNCN tối đa 1,2 triệu/người?
Vừa qua, Bộ Tài chính đã đăng tải Công văn 7257/BTC-CST năm 2026 Bản giải trình, tiếp thu dự án Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Tải về Công văn 7257/BTC-CST năm 2026.
Trong đó, nội dung Công văn 7257/BTC-CST năm 2026 về phản hồi chính thức của BTC về đề xuất khoản tiền ăn trưa tính thuế TNCN tối đa 1,2 triệu/người như sau:
(1) Đối với góp ý của Bộ Xây dựng:
- Góp ý: Điểm g khoản 2 Điều 8 dự thảo Nghị định: đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét sửa đổi, bổ sung như sau:
“g) Phần vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng của khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động…”
Lý do: để phù hợp với nội dung tại dự thảo Tờ trình, nếu khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng thì mới tính thuế TNCN và chỉ tính trên phần vượt quá, do vậy đề nghị sửa đổi để quy định được rõ hơn.
- Nội dung tiếp thu, giải trình của Bộ Tài chính: Dự thảo Nghị định đã thể hiện được như nội dung góp ý, cụ thể:
g) Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng.
Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
(2) Ủy ban nhân dân thành phố Huế:
- Góp ý: Đề nghị chỉnh lý nội dung tại điểm g, khoản 2, Điều 8 (trang 5) dự thảo Nghị định về việc áp dụng các mức giới hạn phụ cấp, trợ cấp miễn thuế, cụ thể: Mức trần tiền ăn ca 1,2 triệu đồng/tháng có thể khá thấp so với chi phí sinh hoạt tại các thành phố lớn vào năm 2026. Thay vì ấn định con số tuyệt đối trong Nghị định, đề nghị giao cho Bộ Tài chính hướng dẫn điều chỉnh linh hoạt theo từng thời kỳ, hoặc gắn với một chỉ số kinh tế cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
- Nội dung tiếp thu, giải trình của Bộ Tài chính:
Cơ quan soạn thảo đề nghị giữ nội dung này như tại dự thảo Nghị định. Quy định khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1.200.000 đồng/người/tháng mới tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân tại dự thảo Nghị định được tính toán căn cứ sự biến động chi tiêu bình quân, thu nhập bình quân bình quân xã hội và biến động của chỉ số CPI và có tính đến dự báo cho một số năm tiếp theo.
Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân như hiện hành (miễn thuế).
(3) Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam
- Góp ý: Điểm g khoản 2 Điều 08 dự thảo quy định:
“Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng. Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa cа, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân;”
Mức chỉ tiêu bình quân xã hội hàng năm đều thay đổi theo biến động kinh tế, xã hội và chỉ số CPI, việc ấn định mức 1,2 triệu đồng/người/tháng khi xác định thu nhập chịu thuế đối với các khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi trả vượt mức là chưa phù hợp theo biến động giá cả thị trường, chi phí chi tiêu hàng năm. Để kịp thời điều chỉnh mức chi phí ăn ca phù hợp với biến động giá cả hàng năm, đề nghị Cơ quan soạn thảo bổ sung Dự thảo theo hướng: “Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng...Định kỳ hàng năm, căn cứ theo chi số CPI công bố, giao Bộ Tài chính điều chỉnh quy định về mức tiền vượt mức làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế đối với các khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa”.
- Nội dung tiếp thu, giải trình của Bộ Tài chính:
Cơ quan soạn thảo đề nghị giữ nội dung như tại dự thảo Nghị định gửi xin ý kiến. Nội dung này thuộc thẩm quyền của Chính phủ và trong trường hợp cần thiết, Chính phủ sẽ điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.
(4) Công ty TNHH Tư vấn Thuế Deloitte Việt Nam
- Góp ý: Đề nghị sửa đổi điểm g khoản 2 Điều 8:
“g) Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng. Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Căn cứ biến động của giá cả, thu nhập, Chính Phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định hạn mức tiền ăn ca không chịu thuế phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ.”
Chúng tôi thấy rằng Ban soạn thảo đề xuất khoản chi tiền ăn giữa ca, ăn trưa có mức trần 1,2 triệu đồng/người/tháng khi xác định thu nhập chịu thuế của người lao động là hợp lý tại thời điểm hiện tại.
Như được trình bày tại Tờ trình Dự thảo Nghị định, chúng tôi hiểu rằng mức tiền ăn trưa, ăn giữa ca đang được Ban soạn thảo đề xuất trên cơ sở tham chiếu số liệu của Cục Thống kê về biến động chi tiêu bình quân, thu nhập bình quân của xã hội, cũng như chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ năm 2016 đến nay, đồng thời có xét đến yếu tố dự báo cho các năm tiếp theo.
Tuy nhiên, việc quy định một mức cố định trong Nghị định, trong khi các yếu tố kinh tế - xã hội nêu trên có tính biến động theo thời gian, có thể làm giảm tính linh hoạt của chính sách. Trên thực tế, cơ chế cập nhật các khoản định mức cố định thường không kịp thời so với diễn biến của thị trường, dẫn đến việc các chính sách thuế không còn phản ánh đúng thực tế khi điều kiện kinh tế xã hội thay đổi.Chúng tôi đề xuất Ban soạn thảo bổ sung cơ chế điều chỉnh mức trần tiền ăn giữa ca theo biến động của giá cả, nhằm đảm bảo mức quy định luôn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và phản ánh kịp thời diễn biến thực tế của thị trường.
- Nội dung tiếp thu, giải trình của Bộ Tài chính:
Cơ quan soạn thảo đề nghị giữ nội dung như tại dự thảo Nghị định. Việc quy định khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1.200.000 đồng/người/tháng mới tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân được tính toán căn cứ sự biến động chi tiêu bình quân, thu nhập bình quân xã hội và biến động của chỉ số CPI và có tính đến dự báo cho một số năm tiếp theo. Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân như hiện hành (được miễn thuế).
(5) Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI
- Góp ý: Đề xuất đối với điểm e, điểm g khoản 2 Điều 8:
(i) Bổ sung quy định về việc điều chỉnh các mức chặn trên tại khoản 2 Điều 8 theo tình hình kinh tế - xã hội, lạm phát hoặc theo các chỉ số giá tiêu dùng do Tổng cục Thống kê công bố để có cơ chế thay đổi cũng như phù hợp với thực tế chi tiêu của người lao động.
(ii) Đề xuất nâng mức trần tiền ăn:
- Nâng mức trần tiền ăn lên ít nhất 1.800.000 đồng/người/tháng để bắt kịp thực tế giá cả đô thị năm 2026.
- Nâng mức trần hoặc áp dụng cơ chế điều chỉnh mức trần tự động theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) định kỳ 2 năm một lần, tránh tình trạng quy định lạc hậu nhanh như lịch sử các mức trần trước đây.
(iii) Đề nghị làm rõ trong trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động theo quy định tại câu cuối của g khoản 2 Điều 8 thì có bị phụ thuộc hạn mức 1,2 triệu đồng/người/tháng không và có được áp dụng cả hai hình thức này không?
(iv) Trong trường hợp Công ty áp dụng cả 2 hình thức thì thu nhập tính thuế được quy định như thế nào?
Lý do:
- Bổ sung cơ chế điều chỉnh theo tình hình kinh tế, lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng. Tránh lạc hậu sau vài năm và tăng tính linh hoạt, phù hợp thực tế chi tiêu người lao động.
- Mức trần 1,2 triệu đồng/tháng chưa phản ánh thực tế chi phí ăn uống tại các đô thị lớn năm 2026. Tại Hà Nội và TP.HCM, suất ăn văn phòng phổ biến hiện ở mức 50.000-80.000 đồng/ngày, tương đương 1.100.000 -1.760.000 đồng/tháng (22 ngày làm việc). Với mức 1.200.000 đồng nhiều doanh nghiệp dù chi tiền ăn ở mức tối thiểu cũng đã vượt ngưỡng và phải tính thuế, gây khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn người lao động.
- Nội dung tiếp thu, giải trình của Bộ Tài chính:
Cơ quan soạn thảo đề nghị giữ nguyên nội dung như tại dự thảo Nghị định, lý do: Việc quy định khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1.200.000 đồng/người/tháng mới tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân được tính toán căn cứ sự biến động chi tiêu bình quân, thu nhập bình quân bình quân xã hội và biến động của chỉ số CPI và có tính đến dự báo cho một số năm tiếp theo.
Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân như hiện hành (được miễn thuế).
Như vậy, từ những thông tin trên một lần nữa cơ quan soạn thảo hồ sơ dự án Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân thuộc Bộ Tài chính thống nhất chốt ngưỡng tối đa khoản trợ cấp ăn ca 1.2 triệu/người thì mới được miễn thuế TNCN.sau khi tiếp nhận các ý kiến đóng góp của các cơ quan, người nộp thuế.
*Trên đây là nội dung về việc Phản hồi chính thức của BTC về đề xuất khoản tiền ăn trưa tính thuế TNCN tối đa 1,2 triệu/người?

Phản hồi chính thức của BTC về đề xuất khoản tiền ăn trưa tính thuế TNCN tối đa 1,2 triệu/người? (Hình từ Internet)
Các khoản phụ cấp được trừ khi tính thuế TNCN từ tiền công tiền lương theo dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế TNCN 2025?
Theo khoản 3 Điều 8 dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân Tải về đã đề xuất quy định về cá khoản phụ cấp được trừ khi tính thuế TNCN từ tiền công tiền lương như sau:
- Trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hàng tháng và trợ cấp một lần theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công;
- Trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần đối với các đối tượng tham gia kháng chiến, bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ;
- Phụ cấp quốc phòng, an ninh; trợ cấp đối với lực lượng vũ trang;
- Phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm;
- Phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực;
- Phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả cho thành viên cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, phu nhân/phu quân và con chưa thành niên đi theo thành viên cơ quan Việt Nam ở nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 08/2019/NĐ-CP quy định một số chế độ đối với thành viên cơ quan Việt Nam ở nước ngoài đã được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 51/2024/NĐ-CP;
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng, và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;
- Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật;
Trường hợp doanh nghiệp có quy định cụ thể tại quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ hoặc hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động về mức trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cao hơn mức quy định của pháp luật về lao động thì phần chi trả thực tế vượt mức này cũng không tính vào thu nhập chịu thuê của cá nhân.
- Trợ cấp đối với các đối tượng được bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội;
- Phụ cấp phục vụ đối với lãnh đạo cấp cao;
- Trợ cấp một lần đối với cá nhân khi chuyển công tác đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ một lần đối với cán bộ, công chức làm công tác về chủ quyền biển đảo theo quy định của pháp luật. Trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, người Việt Nam cư trú dài hạn ở nước ngoài về Việt Nam làm việc;
Riêng trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, người Việt Nam cư trú dài hạn ở nước ngoài về Việt Nam làm việc được trừ theo mức ghi tại quyết định hoặc văn bản điều động, luân chuyển, quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ hoặc hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động.
- Phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản;
- Phụ cấp đặc thù ngành, nghề.
Các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế quy định tại khoản này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định theo pháp luật về ưu đãi người có công, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, lao động, bảo hiểm xã hội, y tế, giáo dục – đào tạo và pháp luật liên quan khác. Trường hợp khoản phụ cấp, trợ cấp nhận được cao hơn mức phụ cấp, trợ cấp quy định thì phần vượt phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của cá nhân, trừ quy định tại điểm h khoản này.
Thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công được xác định tại thời điểm nào?
Căn cứ khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thời điểm xác định thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công như sau:
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế quy định tại khoản 2 Điều này, không phân biệt nơi trả thu nhập, nhân (x) với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật này.
2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, trừ (-) đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ không vượt quá mức do Chính phủ quy định và các khoản giảm trừ quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật này.
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Như vậy, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương tiền công là thời điểm người sử dụng lao động trả tiền lương tiền công cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];