NLĐ ký cam kết tự lo BHXH để DN trả tiền thay thì có hợp pháp không?

09:00 | 17/09/2026
Người lao động ký cam kết tự lo BHXH để doanh nghiệp trả tiền thay thì có hợp pháp không?
Nội dung chính
  1. NLĐ ký cam kết tự lo BHXH để DN trả tiền thay thì có hợp pháp không?
  2. Khoản đóng BHXH bắt buộc có được trừ ra trước khi khấu trừ 10% thuế TNCN của người đã chấm dứt HĐLĐ không?
  3. Những trường hợp khám chữa bệnh được cơ quan BHXH thanh toán chi phí trực tiếp cho người tham gia BHYT?

NLĐ ký cam kết tự lo BHXH để DN trả tiền thay thì có hợp pháp không?

Nhiều doanh nghiệp thỏa thuận với người lao động rằng người lao động sẽ tự lo việc tham gia BHXH, còn doanh nghiệp trả thêm một khoản tiền vào lương thay cho phần đóng BHXH.

Vậy nếu người lao động tự nguyện ký cam kết như vậy thì doanh nghiệp có được không?

Theo điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Quy định này cũng áp dụng với trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng thực tế có nội dung về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.

Đồng thời, tại khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động 2019 quy định đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Tuy nhiên, trường hợp người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đăng ký và đóng BHXH theo quy định. Việc người lao động ký cam kết tự lo BHXH hoặc nhận thêm tiền thay cho việc đóng BHXH không làm thay đổi nghĩa vụ này.

Theo Điều 43, Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP hành vi chậm đóng, trốn đóng BHXH bắt buộc có thể bị xử lý theo quy định. Do đó, doanh nghiệp không thể dựa vào cam kết của người lao động để thay thế nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc.

Từ những căn cứ trên, có thể hiểu nếu người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đăng ký và đóng BHXH theo quy định.

Việc người lao động tự nguyện ký cam kết không tham gia BHXH hoặc đồng ý nhận thêm tiền vào lương để tự lo BHXH không làm thay đổi đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo luật.

Nói cách khác, cam kết giữa người lao động và doanh nghiệp không thể thay thế nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc nếu pháp luật đã xác định người lao động thuộc diện phải tham gia.

Khoản tiền doanh nghiệp trả thêm cùng lương theo thỏa thuận cũng không làm cho doanh nghiệp được miễn nghĩa vụ đăng ký, đóng BHXH bắt buộc.

Ngoài tiền phạt, doanh nghiệp còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định. Đối với trường hợp chậm đóng hoặc trốn đóng BHXH bắt buộc, doanh nghiệp phải đóng đủ số tiền BHXH còn thiếu và nộp thêm khoản tiền tính theo mức 0,03%/ngày trên số tiền BHXH chậm đóng hoặc trốn đóng theo quy định.

Chỉ khi người lao động thực sự không thuộc diện tham gia bảo hiểm bắt buộc thì mới xem xét trả thêm khoản tương ứng cùng kỳ lương theo quy định pháp luật.

NLĐ ký cam kết tự lo BHXH để DN trả tiền thay thì có hợp pháp không?

NLĐ ký cam kết tự lo BHXH để DN trả tiền thay thì có hợp pháp không? (Hình từ Internet)

Khoản đóng BHXH bắt buộc có được trừ ra trước khi khấu trừ 10% thuế TNCN của người đã chấm dứt HĐLĐ không?

Căn cứ tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về khấu trừ thuế TNCN sau khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
...

Căn cứ tại Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 có quy định về thu nhập tính thuế TNCN như sau:

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế quy định tại khoản 2 Điều này, không phân biệt nơi trả thu nhập, nhân (x) với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật này.
2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, trừ (-) đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ không vượt quá mức do Chính phủ quy định và các khoản giảm trừ quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật này.
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Theo quy định thì thu nhập tính thuế TNCN được xác định như sau:

Thu nhập tính thuế TNCN = Thu nhập chịu thuế - các khoản đóng BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm nhân thọ.

Theo đó, tại Công văn 10049/NBI-QLDN1 năm 2026 Tải về hướng dẫn khấu trừ thuế TNCN 10% đối với trường hợp đã chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Về khoản thu nhập làm căn cứ khấu trừ 10%: Công ty thực hiện khấu trừ 10% trên khoản thu nhập từ tiền lương, tiển công thuộc diện chịu thuế trước khi trả cho cá nhân. Các khoản thu nhập được miễn thuế theo quy định, trong đó có tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ và tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép trong phạm vi điều kiện, thời gian và mức theo pháp luật lao động, không tính vào khoản thu nhập chịu khấu trừ, phần vượt mức quy định của pháp luật phải tính vào thu nhập chịu thuế. Các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc, giảm trừ gia cảnh và các khoản giảm trừ khác là căn cứ xác định thu nhập tính thuế khi áp dụng Biểu thuế lũy tiến từng phần hoặc khi quyết toán thuế, không trừ khi thực hiện khấu trừ tạm thời theo tỷ lệ 10% quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-СР.

Theo đó, khi khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10%, số thuế được tính trực tiếp trên thu nhập chịu thuế, các khoản đóng BHXH bắt buộc và giảm trừ gia cảnh là căn cứ để xác định thu nhập tính thuế theo biểu lũy tiến hoặc khi quyết toán thuế.

Do đó, không trừ các khoản đóng BHXH bắt buộc, giảm trừ gia cảnh hoặc các khoản giảm trừ khác trước khi khấu trừ 10%.

Những trường hợp khám chữa bệnh được cơ quan BHXH thanh toán chi phí trực tiếp cho người tham gia BHYT?

Căn cứ theo Điều 54 Nghị định 188/2025/NĐ-CP quy định 07 trường hợp cơ quan BHXH thanh toán trực tiếp chi phí khám chữa bệnh BHYT cho người tham gia BHYT như sau:

Thứ nhất, người bệnh trong tình trạng cấp cứu, mất ý thức hoặc tử vong nhưng chưa xuất trình được thông tin thẻ BHYT trước thời điểm ra viện.

Thứ hai, người tham gia BHYT thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an bị mất thẻ BHYT nhưng chưa được cấp lại; hoặc thông tin trên thẻ BHYT bị lỗi, sai lệch và chưa được cơ quan BHXH điều chỉnh tại thời điểm kết thúc lượt khám chữa bệnh hoặc ra viện.

Thứ ba, người tham gia BHYT thuộc nhóm do ngân sách nhà nước đóng nhưng chưa được cấp thẻ BHYT, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 Nghị định 188/2025/NĐ-CP.

Trong trường hợp này, người bệnh được thanh toán toàn bộ phần chi phí khám chữa bệnh thuộc phạm vi và mức hưởng BHYT kể từ ngày được xác định thuộc nhóm do ngân sách nhà nước đóng BHYT nhưng chưa được thanh toán do chưa được cấp thẻ.

Thứ tư, người bệnh phải cấp cứu tại cơ sở khám chữa bệnh không có hợp đồng khám chữa bệnh BHYT. Cơ quan BHXH sẽ thanh toán phần chi phí thuộc phạm vi và mức hưởng BHYT mà người bệnh chưa được thanh toán theo quy định.

Thứ năm, người tham gia BHYT đã chuyển sang nhóm đối tượng có mức hưởng BHYT cao hơn nhưng chưa được cấp thẻ BHYT mới. Khi đó, cơ quan BHXH thực hiện thanh toán trực tiếp phần chênh lệch giữa hai mức hưởng cho người tham gia.

Thứ sáu, người bệnh tự mua thuốc, thiết bị y tế trong các trường hợp đáp ứng quy định tại Điều 58 và Điều 59 Nghị định 188/2025/NĐ-CP.

Thứ bảy, người tham gia BHYT đi khám chữa bệnh trong thời gian thẻ BHYT bị thu hồi, tạm giữ hoặc tạm khóa theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 12 Nghị định 188/2025/NĐ-CP mà nguyên nhân không xuất phát từ lỗi của người tham gia BHYT.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Kế toán - Kiểm toán Xem thêm

Bài viết mới nhất