Người lao động nghỉ ngày 30/6/2026, ngày 10/7/2026 công ty mới trả lương tháng 6 thì làm thế nào?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 51,749 lượt xem
07:28 | 22/07/2026
Người lao động nghỉ ngày 30/6/2026, ngày 10/7/2026 công ty mới trả lương tháng 6 thì làm thế nào?
Nội dung chính
  1. Người lao động nghỉ ngày 30/6/2026, ngày 10/7/2026 công ty mới trả lương tháng 6 thì làm thế nào?
  2. Trả lương tiền mặt từ 5 triệu trở lên trong năm 2026 sẽ bị loại chi phí khi quyết toán thuế TNDN?
  3. Công ty trả lương chậm bị phạt bao nhiêu tiền và bồi thường tiền lãi như thế nào cho nhân viên?

Người lao động nghỉ ngày 30/6/2026, ngày 10/7/2026 công ty mới trả lương tháng 6 thì làm thế nào?

NÓNG: Đã có TOÀN VĂN Thông tư 89/2026/TT-BTC hướng dẫn chi tiết Luật Quản lý thuế 2025 và Nghị định 252/2026/TT-BTC

Có thể hiểu đơn giản như sau: Ngày 30/6/2026, người lao động đã nghỉ việc. Ngày 10/7/2026 công ty mới chuyển tiền lương. Khi công ty trả tiền, hợp đồng lao động đã chấm dứt. Vì vậy, nếu khoản thu nhập chịu thuế trả trong lần này từ 5 triệu đồng trở lên, công ty phải khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trước khai trả cho người lao động theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Theo đó, công ty thực hiện theo 5 bước như sau:

Bước 1: Tính lương tháng 6 bình thường

Công ty tính đầy đủ khoản tiền lương tháng 6, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ, trợ cấp và các khoản thu nhập khác (nếu có)

Bước 2: Tách khoản tính thuế và khoản không tính thuế

Theo Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định các khoản thu nhập chịu thuế như tiền lương, tiền thưởng, khoản hỗ trợ có tính chất tiền lương.

Đối với khoản không tính thuế hoặc được miễn thuế được quy định tại Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 như khoản trợ cấp thôi việc đúng quy định, trợ cấp mất việc đúng quy định, phần tiền làm thêm giờ đúng quy định, các khoản miễn thuế khác...

Nói một cách dễ hiểu thì công ty chỉ lấy phần thu nhập thực sự thuộc diện chịu thuế TNCN để khấu trừ 10%

Bước 3: Tính bảo hiểm tháng 6

Nếu tháng 6 người lao động vẫn thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội, công ty vẫn trừ phần bảo hiểm người lao động bắt buộc phải đóng. Tuy nhiên, tiền bảo hiểm không được trừ trước khi tính khoản khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân.

Với công thức như sau: Thuế tạm khấu trừ = thu nhập chịu thuế X 10%

Bước 4: Tính số tiền thực trả

Với công thức như sau:

Tiền thực nhận = Tổng số tiền được hưởng - bảo hiểm người lao động phải đógn - thuế thu nhập cá nhân - các khoản khấu trừ khác

Bước 5: Kê khai và cấp chứng từ

Công ty thực hiện kê khai khoản thu nhập này vào quý 3/2026. Cấp chứng từng khấu trừ thuế TNCN cho người lao động khi có yêu cầu để người lao động dùng chứng từ này để quyết toán hoặc xin hoàn thuế cuối năm.

Vậy, "khi trả lương vào ngày 10/7/2026 thì có được trừ bảo hiểm và giảm trừ gia cảnh trước khi khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân không?"

Câu trả lời là KHÔNG, công ty không được phép tính với công thức Lương - bảo hiểm - giảm trừ gia cảnh - giảm trừ người phụ thuộc rồi mới khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân.

Vì khi áp dụng khấu trừ 10%, công ty phải tính trực tiếp trên phần tổng thu nhập chịu thuế trước khi trả thu nhập.

Khi quyết toán thuế TNCN cuối năm, người lao động sẽ vẫn được tính lại các khoản như tiền bảo hiểm bắt buộc đã đóng, giảm trừ cho bản thân, giảm trừ cho người phụ thuộc, số thuế 10% công ty đã khấu trừ.

Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định khi xác định lại thu nhập tính thuế thì người lao động sẽ được trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc và các khoản giảm trừ gia cảnh.

Do đó, khoản khấu trừ 10% chỉ là số thuế công ty tạm giữ và nộp thay, không có nghĩa người lao động mất luôn số tiền này.

Nếu cuối năm tính lại mà không phải nộp thuế hoặc số thuế phải nộp thấp hơn, người lao động có thể làm quyết toán để được hoàn thuế TNCN theo Điều 6 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.

Ví dụ:

Người lao động nghỉ việc ngày 30/6/2026, nhận lương ngày 10/7/2026. Với mức lương tháng 6 là 20 triệu đồng, bảo hiểm người lao động phải đóng là 2,1 triệu đồng, không có khoản được miễn thuế.

Lúc này mức thuế TNCN phải khấu trừ 10% là 20 triệu X 10% = 2 triệu đồng tiền thuế tạm khấu trừ.

Số tiền thực nhận của người lao động sẽ là 20 triệu - 2,1 triệu tiền bảo hiểm - 2 triệu tiền thuế tạm khấu trừ = 15,9 triệu đồng

Sau đó, cuối năm người lao động cộng toàn bộ thu nhập trong năm rồi tính lại sau khi trừ tiền bảo hiểm đã đóng, giảm trừ bản thân, giảm trừ người phụ thuộc. Nếu số thuế thực tế phải nộp là 0 đồng thì khoản 2 triệu đồng đã bị khấu trừ sẽ được hoàn lại khi người lao động đề nghị.

Người lao động nghỉ ngày 30/6/2026, ngày 10/7/2026 công ty mới trả lương tháng 6 thì làm thế nào?

Người lao động nghỉ ngày 30/6/2026, ngày 10/7/2026 công ty mới trả lương tháng 6 thì làm thế nào? (Hình từ Internet)

Trả lương tiền mặt từ 5 triệu trở lên trong năm 2026 sẽ bị loại chi phí khi quyết toán thuế TNDN?

Từ năm 2026 trở đi, trả lương tiền mặt từ 5 triệu trở lên mỗi lần sẽ bị loại chi phí khi quyết toán thuế TNDN theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.

Cụ thể, tại điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:

Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:
...
c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
...

Như vậy, khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Đồng thời, tại Trang thông tin điện tử Cục Thuế đã tổ chức Hội nghị đối thoại giữa Bộ Tài chính với người nộp thuế về chính sách, thủ tục hành chính thuế và hải quan năm 2025.

Trong đó có đặt ra một số câu hỏi và câu trả lời liên quan đến việc trả lương tiền mặt từ 5 triệu trở lên có bắt buộc phải thanh toán không dùng tiền mặt hay không. Tham khảo một số câu trả lời của Cục Thuế dưới đây:

Câu hỏi 1: Căn cứ NĐ 320/2025 ngày 15/12/2025 quy định và hướng dẫn một số điều của Luật thuế TNDN; tại tiết c, Khoản 1, Điều 9 của Nghị Định có nói: Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng. Vậy xin hỏi, nếu doanh nghiệp chi trả lương cho người lao động bằng hình thức tiền mặt hoặc hiện vật (không trả lương theo hình thức thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định) đối với từng người có mức lương trên 5 triệu đồng/người/lần chi trả thì có được đưa vào chi phí được trừ hay không?

Cục Thuế Trả lời:

Tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 (áp dụng kể từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025) của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định:

“Điều 9. Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:

...

c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng”.

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp chi trả tiền lương cho người lao động của doanh nghiệp từng lần từ 05 triệu đồng trở lên mà không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định thì không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.


Câu hỏi 2: DN tôi có NLĐ nước ngoài, hàng tháng chúng tôi thực hiện chi trả lương cho NLĐ nước ngoài bằng tiền mặt, loại tiền chi trả là tiền USD ( quy ra tiền VNĐ là trên 5 triệu VNĐ). Vậy chúng tôi có được ghi nhận chi phí này là chi phí hợp lý khi xác định thuế TNDN hay không?

Cục Thuế Trả lời:

Tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 (áp dụng kể từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025) của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định:

“Điều 9. Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:

...

c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng”.

...

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp chi trả tiền lương cho người lao động của doanh nghiệp từng lần từ 05 triệu đồng trở lên mà không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định thì không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

Vừa mới đây, Thuế cơ sở 14 Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn 01/TCS14-QLDN1 năm 2026 Tải về hướng dẫn chi trả lương từ 05 triệu trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để được trừ khi tính thuế TNDN cụ thể:

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp công ty chi trả lương từ 5 triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để được tính là khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Ngoài ra, Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí thuộc Bộ Tài chính cũng đã ban hành Công văn 218/CST-TN năm 2026 Tải về về việc áp dụng chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khi thanh toán tiền lương, tiền công cho người lao động.

Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí đã lưu ý điều kiện tiền lương trên 5 triệu được trừ khi tính thuế TNDN như sau:

Căn cứ vào các quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp có khoản chi thanh toán tiền lương, tiền công trả cho người lao động đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP và không thuộc các khoản chi không được trừ quy định tại khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP thì khoản chỉ thanh toán tiền lương, tiền công này được xác định là khoản chỉ được trừ khi tính thuế TNDN trong kỳ. Trong đó, đối với khoản chi thanh toán tiền lương, tiền công từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên cho người lao động kể từ ngày Nghị định 320/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 15/12/2025), để được tính vào chi phí được trừ thì doanh nghiệp phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Việc xác định chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định tại Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng.

Từ những căn cứ trên, có thể thấy Bộ Tài Chính hay Cơ quan thuế đều nhấn mạnh trường hợp doanh nghiệp chi trả lương từng lần từ 5 triệu đồng trở lên cho người lao động mà không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt sẽ không được tính vào chi phí được trừ khi quyết toán thuế TNDN.

Nên việc trả lương tiền mặt từ 5 triệu trở lên mỗi lần sẽ không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Như vậy, có thể khẳng định trong năm 2026 trở đi trả lương tiền mặt từ 5 triệu trở lên mỗi lần sẽ bị loại chi phí khi quyết toán thuế TNDN.

Công ty trả lương chậm bị phạt bao nhiêu tiền và bồi thường tiền lãi như thế nào cho nhân viên?

Theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP công ty trả lương chậm cho người lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo số lượng người lao động bị vi phạm, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ khắc phục hậu quả theo đúng quy định. Chi tiết như sau:

Căn cứ theo khoản 2 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về việc xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về tiền lương như sau:

Vi phạm quy định về tiền lương
...
2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm; không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công; không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm; không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật; không trả đủ tiền lương cho người lao động cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc trong trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Đồng thời, căn cứ theo khoản 5 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP nêu rõ các biện pháp khắc phụ hậu quả khi có vi phạm quy định về tiền lương như sau:

Vi phạm quy định về tiền lương
...
5. Biện pháp khắc phục hậu quả
a) Buộc người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này;
b) Buộc người sử dụng lao động trả đủ khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cộng với khoản tiền lãi của số tiền đó tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này.
Theo đó, ngoài việc bị phạt tiền thì công ty còn phải trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.

Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 quy định về kỳ hạn trả lương như sau:

Kỳ hạn trả lương
...
4. Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Theo đó, công ty được chậm trả lương trong trường hợp có lý do bất khả kháng mà phía công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn. Tuy nhiên không được chậm quá 30 ngày, khi chậm quá thời hạn này công ty vẫn bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định.

Từ các quy định trên, công ty trả lương không đúng hạn cho người lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, với mức phạt được xác định theo số lượng người lao động bị ảnh hưởng, cụ thể như sau:

- Từ 01 - 10 người lao động: Phạt từ 5 - 10 triệu đồng

- Từ 11 - 50 người lao động: Phạt từ 10 - 20 triệu đồng

- Từ 51 - 100 người lao động: Phạt từ 20 - 30 triệu đồng

- Từ 101 - 300 người lao động: Phạt từ 30 - 40 triệu đồng

- Từ 301 người lao động trở lên: Phạt từ 40 - 50 triệu đồng

Lưu ý: Mức phạt quy định trên đây là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân (theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).

Ngoài ra, công ty còn phải khắc phục hậu quả, bao gồm:

- Buộc trả đủ tiền lương còn thiếu hoặc chậm trả cho người lao động

- Trả thêm tiền lãi của số tiền lương chậm trả, tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt

Trường hợp chậm lương do bất khả kháng nhưng từ 15 ngày trở lên, người sử dụng lao động còn phải trả thêm khoản tiền lãi tối thiểu theo lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng tại ngân hàng nơi mở tài khoản trả lương.

Như vậy, ngoài tiền phạt hành chính, áp dụng các biện pháp khắc phụ hậu quả, doanh nghiệp còn phải trả đủ lương và tiền lãi phát sinh do chậm trả cho người lao động theo đúng quy định.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất